CHƯƠNG 1 Chương này trình bày tổng quát về vấn đề nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các công ty qua những nghiên cứu liên quan trên thế giới và ở Việt Nam để làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. Từ các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng đánh giá chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Hệ thống kiểm soát nội bộ, chính sách về thuế, ứng dụng công nghệ thông tin, trình độ nhân viên kế toán, nhà quản trị, đặc điểm công ty xây dựng, quy mô công ty, rủi ro kiểm toán BCTC, chuẩn mực kế toán,… Ngoài ra, chương này đã trình bày điểm khác biệt của đề tài các nghiên cứu trước, thêm vào đó nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” có sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, có sự kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng sẽ góp phần nâng cao ý nghĩa thực tiễn của đề tài. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY 2.1 Cơ sở lý luận về báo cáo tài chính 2.1 Khái niệm về báo cáo tài chính Theo Phan Minh Nguyệt (2014), thì: Báo cáo tài chính kế toán là những báo cáo tổng hợp được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định. Các báo cáo tài chính kế toán phản ánh một cách có hệ thống tình hình tài sản, công nợ, tình hình sử dụng vốn và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong những thời kỳ nhất định, đồng thời chúng được giải trình giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để đề ra các quyết định cho phù hợp.
Báo cáo tài chính là kết quả của công tác kế toán trong một kỳ kế toán và là sản phẩm cuối cùng của kế toán tài chính.2 Mục đích của báo cáo tài chính Theo Hoàng Cẩm Trang (2006) thì báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu của những người sử dụng khác trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu; Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác; Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh; Thuế và các khoản nộp Nhà nước; Tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán; Các luồng tiền. Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong “Bản thuyết minh báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh 13 trên các báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày báo cáo tài chính.3 Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp Theo TT 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 20/12/2014 của Bộ tài chính, các DN bắt buộc phải lập 4 báo cáo sau: Bảng cân đối kế toán: đây là bản báo cáo tài chính tổng hợp vô cùng quan trọng của DN, vì nó phản ánh được một cách tổng quát về tình hình nguồn vốn, tài sản cũng như cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn hình thành nên tài sản đó của DN tại một thời điểm nhất định mà trong bản báo cáo ghi rõ, từ đó giúp các nhà sử dụng báo cáo tài chính có sự phân tích, đánh giá và cái nhìn tổng quát hơn về những triển vọng kinh tế, tài chính của DN mà họ đang quan tâm. Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 phần, đó là phần tài sản và phần nguồn vốn.
Khi xem xét phần tài sản, các chỉ tiêu trong phần tài sản cho phép đánh giá một cách tổng quát về toàn bộ giá trị tài sản hiện có của DN tại thời điểm báo cáo, hay nói cách khác nó phản ánh năng lực về vốn cũng như là tiềm lực kinh tế mà DN có quyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai. Khi xem xét nguồn vốn, với các chỉ tiêu được thểhiện ở phần này sẽ giúp cho những nhà sử dụng hiểu được thực trạng tài chính, nguồn hình thành tài sản hiện có của DN tại thời điểm báo cáo, đồng thời nó còn thể hiện trách nhiệm pháp lý của DN về số vốn đã đăng ký kinh doanh, cũng như tài sản đang quản lý và sử dụng, chẳng hạn như các khoản nợ thuế, nợ tiền lương công nhân, nợ nhà cung cấp,. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh một cách tổng quát về các khoản doanh thu và thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh do các hoạt động khác nhau tạo ra doanh thu và thu nhập của DN trong một thời kỳ nhất định. Báo cáo kết quả kinh doanh được các nhà đầu tư rất coi trọng trong việc lựa chọn đối tác kinh doanh hay chọn mua cổ phiếu.
Một báo cáo kết quả kinh doanh tốt sẽ giúp cho DN có một bộ mặt tài chính hiệu quả và nâng cao uy tín của DN, tạo lòng tin đối với công chúng cũng như các đối tác của mình. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: đây là một báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu và chi tiền của DN theo từng hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài 14 chính nhằm trình bày cho người sử dụng biết nguồn gốc phát sinh của tiền tệ và cách thức sử dụng tiền tệ trong kỳ báo cáo. Từ đó giúp họ có thể phân tích, đánh giá và đưa ra các dự đoán phục vụ cho mục đích của mình. Bản báo cáo lưu chuyển tiền tệ bao gồm 3 phần, phần 1 phản ánh toàn bộ dòng tiền được lưu chuyển có liên quan đến các hoạt động kinh doanh của DN như tiền thu bán hàng, chi phí tiền trả cho nhà cung cấp,.; phần 2 phản ánh toàn bộ dòng tiền lưu chuyển từ các hoạt động đầu tư như tiền mua sắm tài sản cố định, tiền góp vốn liên doanh, tiền đầu tư chứng khoán, tiền cho vay.; phần 3 phản ánh toàn bộ dòng tiền được lưu chuyển từ các hoạt động tài chính như góp vốn, vay vốn, phát hành chứng khoán,.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giúp cho các đối tượng sử dụng nhất là chủ DN theo dõi được và quản lý được luồng tiền lưu động trong DN một cách chi tiết và hiệu quả hơn. Thuyết minh báo cáo tài chính: thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính nhằm thuyết minh, bổ sung và giải trình các thông tin tài chính trong kỳ báo cáo. Nó thể hiện khái quát đặc điểm hoạt động của DN, các chế độ kế toán mà DN sử dụng, từ đó cung cấp các thông tin cần thiết giúp cho việc đánh giá kết quả kinh doanh của DN trong kỳ báo cáo thêm chính xác. Hệ thống báo cáo tài chính gồm báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính giữa niên độ.4 Nguyên tắc lập và trình bày BCTC Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ sáu (06) nguyên tắc đã được quy định tại VAS 21 - Trình bày báo cáo tài chính, gồm: - Hoạt động liên tục: Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình.
Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính. - Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán 15 vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai. - Nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm.
Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính. - Trọng yếu và tập hợp: Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính. Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng. Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính.
Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính. - Bù trừ: + Bù trừ tài sản và nợ phải trả: Khi ghi nhận các giao dịch kinh tế và các sự kiện để lập và trình bày báo cáo tài chính không được bù trừ tài sản và công nợ, mà phải trình bày riêng biệt tất cả các khoản mục tài sản và công nợ trên báo cáo tài chính.