Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 7 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Động lực làm việc 2. Khái niệm động lực làm việc Động lực làm việc (work motivation) được định nghĩa là một tập hợp năng lượng làm việc các nguồn gốc từ bên trong và bên ngoài của một cá nhân (Gagne & Deci, 2010), những lực đó tạo ra, dẫn dắt và duy trì hành vi liên quan đến công việc của con người (Pinder, 1998). Mỗi người sẽ có những đặc điểm khác nhau chi phối hành vi nên theo đó, động lực làm việc được nhận với tư cách một nguồn sức mạnh để bắt đầu hành vi liên quan đến công việc giúp người nhân viên xác định được hình thức, cách thức, phương hướng chỉ đạo, cường độ và thời gian cho công việc đó (Herzberd, 1959). Một người có động lực làm việc khi tìm thấy mối quan hệ giữa ba yếu tố là sự kỳ vọng, phương tiện và giá trị phần thưởng nhận được (Vroom, 1964).
Nên đo lường động lực làm việc giúp tổ chức nhận biết mức độ sẵn lòng làm việc ở mức độ cao hoặc nỗ lực để hướng tới các mục tiêu chung của tổ chức trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn dựa theo mức độ nỗ lực của nhân viên (Robbin, 2008). Với cách hiểu này, động lực làm việc được tiếp cận từ nỗ lực cá nhân, nhu cầu cá nhân gắn với mục tiêu của tổ chức. Các thành phần của động lực làm việc Một số các lý thuyết về nhận thức trước đây đều chỉ xem động lực là một khái niệm đơn giản, chỉ có động lực mạnh và động lực yếu chứ không có sự khác nhau về bản chất của đông lực (động lực mà cá nhân tự sinh ra hay động lực được sinh ra bởi phần thưởng hay đe dọa). Sau này rất nhiều các nghiêm cứu đã chỉ ra rằng nội hàm của động lực làm việc là một vấn đề phức tạp (Meyer và cộng sự, 2004).
Mọi người không chỉ có số lượng khác nhau, mà còn các loại khác nhau của động lực. Đó là, họ không chỉ khác nhau về mức độ động lực (nghĩa là, làm thế nào nhiều động lực), mà còn trong định hướng của động lực đó (nghĩa là loại động lực). Định hướng của động lực liên quan đến quan điểm cơ bản những xu hướng và mục tiêu làm phát sinh hành động (Ryan và Deci, 2000a,b). Dù có nhiều định nghĩa, hoặc nghiên cứu nhằm giải thích về vấn đề nội hàm của động lực nhưng chưa đạt được sự thống nhất, có thể do sự khác nhau về thế giới quan và việc sử dụng các phương pháp lượng hóa chúng 8 cũng khác nhau.
Nhưng hầu hết các nghiên cứu dựa trên lý thuyết tự quyết (Self – Determination Motivation). Và theo thuyết tự quyết có thể chia động lực ra làm nhiều loại khác nhau về mặt đính tính bên cạnh sự khác nhau về mặt định lượng. Dựa trên sự tương quan giữa động lực và hành vi mà động lực đó thúc đẩy, có thể thành như sau: Động lực nội tại (Intrinsic motivation) hay còn gọi là nội động lực là động lực có nguồn gốc bên trong hành vi từ sự hấp dẫn và thỏa mãn của bản thân hành vi và không cần thêm bất cứ một nguồn gốc nào khác nằm ngoài hành vi đó. Động lực nội tại có thể chia ra làm ba loại chính đó là động lực tìm hiểu (có được từ sự tìm tòi khám phá những điều mới lạ), động lực thành tựu (đến từ việc tạo nên một điều gì đó vượt qua giới hạn của bản thân) và động lực trải nghiệm (đến từ việc tiếp nhận những kích thích của các loại cảm giác).
Động lực bên ngoài (Extrinsic motivation) hay còn gọi là ngoại động lực là động lực có nguồn gốc bên ngoài hành vi, họ làm vậy không phải vì bản thân hành vi mà nhằm để đạt được một mục đích nào đó. Thuyết tự quyết cho rằng động lực bên ngoài có thể chia ra làm bốn loại kiểm soát, đi từ không có tính tự chủ đến có tính tự chủ cao đó là sự kiểm soát từ bên ngoài (đến từ môi trường xung quanh), sự kiểm soát đã tiêm nhiễm (đã xâm nhập một phần nào đó vào bên trong nội tâm cá nhân), sự kiểm soát đã đồng nhất (đã được nhân cách tự thân của cá nhân đó chấp nhận, nhưng vẫn tồn tại sự xung đột) và sự kiểm soát đã tích hợp (đã được nhân cách tự thân của cá nhân đó chấp nhận hoàn toàn). Không động lực (Amotivation) hay còn gọi là sự nản lòng là một hành vi có ý thức mà không có động lực nào đáng kể, mà cá nhân đó thực hiện hành vi mà bản thân cho là vô nghĩa, không thấy mối liên hệ giữa hành vi với kết quả và hệ quả là họ cảm thấy chán nản. Nhiều tác giả đã có những nghiêm cứu theo hướng này như Warr (1979); Cameron và Pierce, 1994; Gagné và Daci, 2010; Edward L.
Deci and Richard M. Ryan, 2008; Gagne và cộng sự, 2014. Theo thuyết tự quyết thì động lực làm việc hành vi nói trên có quá trình diễn biến và có thể triệt tiêu lẫn nhau (Gagné và Daci, 2005). Nói một cách khác, quá trình của động lực làm việc bắt đầu từ hoàn toàn không 9 có tự quyết (sự nản lòng) đến tự quyết có kiểm soát (ngoại động lực) và hoàn toàn tự quyết (nội động lực).
Hơn nữa, động lực làm việc thường không ổn định mà gắn với các hoàn cảnh cụ thể (Guay, 2003). Chẳng hạn ngày hôm trước, nhân viên đang làm việc rất hăng hái, nhưng vì bất mãn với người quản lý mà trong ngày làm việc tiếp theo nhân viên đó không còn hăng hái như vậy nữa. Vai trò của tạo động lực làm việc cho người lao động Động lực làm việc có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả làm việc của tổ chức, luôn là vấn đề trọng tâm trong quản trị nguồn nhân lực ( Phạm Đức Thành và Mai Quốc Chánh. 2015) nên việc tạo động lực làm việc cho nhân viên luôn được quan tâm ở bất cứ tổ chức nào.
Đây được coi là một trong những chức năng quan trọng của nhà quản lý, là yếu tố mang tính quyết định hiệu quả làm việc và khả năng cạnh tranh của tổ chức, cho dù đó là tổ chức của nhà nước hay tổ chức tư nhân. Trong bối cảnh cạnh tranh gây gắt thì tổ chức nào có đội ngũ nhân viên có động lực làm việc cao sẽ quyết định sự thành bại của tổ chức. Đối với bất cứ quốc gia nào, việc tạo động lực cho đội ngũ nhân viên cũng có tầm quan trọng đặc biệt, vì họ là bộ phận quan trọng quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của bộ máy tổ chức. Động lực có ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của cá nhân và tổ chức.
Điều này luôn luôn đúng với bất cứ tổ chức nào, bởi vì nếu nhân viên không có động lực làm việc hoặc động cơ làm việc không tích cực sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của cơ quan và có tác động không tốt đến hiệu quả hoạt động của tổ chức. Động lực làm việc của mỗi người nhân viên là rất khác nhau, cũng như ở những lĩnh vực ngành nghề khác nhau cũng rất khác nhau. Người nhân viên chỉ hoạt động tích cực khi mà họ được thỏa mãn nhu cầu còn thiếu hụt của bản thân. Điều này thể hiện ở quyền lợi mà họ được nhận.
Khi mà Người nhân viên cảm thấy lợi ích mà họ nhận được không tương xứng hoặc không phù hợp với những gì họ bỏ ra hoặc không công bằng khi so với những người nhân viên khác, họ cảm thấy không thỏa mãn được những nhu cầu của mình thì sẽ gây ra cảm giác chán nản, làm việc không tập trung cao. Về lâu dài có thể dẫn đến việc họ rời bỏ tố chức. Quyền lợi là một trong những phương tiện để thỏa mãn nhu cầu nên phải tương xứng với những gì họ đóng góp và cống hiến thì mới tạo ra động lực cho họ làm việc. Mỗi người nhân viên sẽ có những đặc điểm khác nhau chi phối hành vi liên quan đến 10 công việc của họ, nên cần giúp họ xác định được cách thức, hướng chỉ đạo, cường độ và thời gian công vệc để tạo nên động lực nhằm thỏa mãn các nhu cầu về thành tích, liên kết và nhu cầu năng lượng.
Nhân viên ở những vị trí công việc khác nhau, đặc thù công việc khác nhau cũng sẽ có những động lực làm việc khác nhau. Đồng thời họ sẽ có động lực làm việc khi nhìn thấy mối liên hệ giữa các yếu tố kỳ vọng, cho nên nhà quản lý cần thông qua đó dẫn dắt, kích thích hành vi của nhân viên để tìm kiếm sự quyết tâm, sự đam mê và niềm hy vọng. Khi có được động lực trong lao động thì người nhân viên có được nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức trước hết cần phải quan tâm tạo động lực làm việc cho nhân viên.
Ngoài ra động lực làm việc không phải chỉ là liên quan đến các yếu tố năng suất và hiệu quả làm việc mà con liên quan đến sở thích cá nhân, liên quan đến năng lực, liên quan đến kỳ vọng và mong muốn đóng góp của cá nhân đó, cũng như là sự cam kết của tổ chức đối với nhân viên. Lý thuyết liên quan đến động lực làm việc 2. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Abraham Maslow (1943) Trong hệ thống lý thuyết quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow là thuyết có được một sự hiểu biết rộng lớn. Theo Maslow (1943) nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, được tôn trọng và tự thể hiện.
Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bấc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Thuyết nhu cầu của Maslow được chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp. Các nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh lý và an toàn. Các nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, được tôn trọng và tự thể hiện.