Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận về động lực làm việc và các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Thực trạng và kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu. Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường động lực làm việc cho nhân viên tại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước 1. Các nghiên cứu về cơ sở hình thành động lực của con người Trên thế giới có một số công trình nghiên cứu về động lực làm việc của con ngƣời, các nghiên cứu này chỉ ra nguồn gốc hình thành động lực làm việc của con ngƣời đến từ nhu cầu, nhận thức và mục tiêu. Các tác giả điển hình khẳng định động lực làm việc đƣợc sinh ra từ nhu cầu có thể kể đến là: Maslow, Herzberg.
Các tác giả nghiên cứu động lực làm việc của con ngƣời trong mối quan hệ với nhận thức của họ về những đòi hỏi hay phần thƣởng đến từ tổ chức, điển hình nhƣ: Victor Vroom, Stayci Adams, Porter và Lawler., các tác giả này chú trọng vào động viên, khuyến khích thông qua việc đƣa ra các phần thƣởng theo những mong muốn và cảm nhận công bằng. Tuy có cách tiếp cận khác nhau nhƣng các nghiên cứu này đều thống nhất rằng: Động lực làm việc của con ngƣời đƣợc hình thành dựa trên những nhu cầu, mục tiêu thuộc về bản thân họ, sự nhận thức của họ về những đáp ứng của tổ chức. Từ đó đã có rất nhiều nghiên cứu tập trung cho việc khám phá hoặc chứng minh cho những kết luận này mà bỏ qua những khác biệt về văn hóa, đặc thù nghề nghiệp, hay môi trƣờng xã hội… cũng có thể thôi thúc con ngƣời làm việc. Vì vậy, tác giả cho rằng, khi nghiên cứu động lực làm việc của nhân viên cần xem xét thông qua các hoạt động cụ thể của họ trong mối quan hệ với môi trƣờng làm việc của tổ chức gắn liền với nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu mà tổ chức có thể đáp ứng cho họ, và phải xem xét trong môi trƣờng xã hội - nơi diễn ra các hoạt động của họ.
Các nghiên cứu về quá trình hình thành động lực làm việc của người lao động Trên thế giới đã có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình hình thành động lực làm việc đƣợc đƣa ra. Một số tài liệu đề cập đến hai yếu tố ảnh hƣởng đến động lực chính là Động lực nội tại và Động lực ngoại vi. Trong đó, động lực nội tại nhắc 5 đến việc con ngƣời chọn thực hiện hành động nào đó vì cảm thấy nó hấp dẫn hoặc đem lại sự hài lòng ngẫu nhiên trong họ, còn động lực ngoại vi nhắc đến các hệ quả tách biệt với hành động của con ngƣời thúc đẩy con ngƣời hành động nhƣ phần thƣởng hoặc lời khen ngợi. Tiêu biểu có các tác giả: Robert Kreitner và Angelo Kinicki, Maslow, … Các nghiên cứu này thống nhất mô tả quá trình hình thành động lực làm việc xuất phát từ sự nhận thức về sự thiếu hụt nhu cầu nào đó, tạo ra trạng thái cảm xúc phản ứng với sự thiếu hụt đó và làm nảy sinh động lực thôi thúc chủ thể thực hiện các hành vi nhằm tìm kiếm sự thỏa mãn những thiếu hụt đó.
Tuy nhiên, cũng chính vì thế, các nghiên cứu này quá tập trung vào những nhân tố bên trong và cho rằng nó sẽ quyết định mức độ của các hành vi, trong khi đó bỏ qua các nhân tố bên ngoài nhƣ: nhận thức về trách nhiệm của bản thân với công việc, đặc thù nghề nghiệp, hay những yêu cầu từ phía tổ chức… 1. Các nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho người lao động Có rất nhiều tác giả khác nhau đã tiếp cận nghiên cứu về tạo động lực làm việc của ngƣời lao động. Nhƣng các nghiên cứu này chủ yếu tập trung theo hai hƣớng là vai trò, tầm quan trọng của tạo động lực đối với tổ chức và các yếu tố ảnh hƣởng tới việc tạo động lực cho ngƣời lao động. Nghiên cứu của Raymond N.
Cheser (1998) đã đặt việc tạo động lực cho ngƣời lao động ở Hoa Kỳ lên trên một quan điểm so sánh và tiếp thu những ảnh hƣởng của các quản lý Nhật Bản. Đề tài khoa học đƣợc tác giả nghiên cứu là “Ảnh hƣởng của các quản lý Kaizem của Nhật Bản lên động lực của ngƣời lao động trong ngành sản xuất của Hoa Kỳ”. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng với bƣớc chuyển từ phƣơng pháp quản lý truyền thống trong các ngành sản xuất của Hoa Kỳ sang phƣơng pháp quản lý đƣợc kế thừa từ ngƣời Nhật, năng suất lao động của ngƣời lao động trong doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể. Kết quả này cho thấy sự quan trọng trong việc thiết lập môi trƣờng làm việc tốt và có tính thúc đẩy tinh thần lao động của nhân viên trong các doanh nghiệp ở những nền văn hóa khác nhau.
Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc Boeve (2007) đã tiến hành cuộc nghiên cứu các yếu tố tạo động lực của các giảng viên khoa đào tạo trợ lý bác sỹ ở các trƣờng Y tại Mỹ trên cơ sở sử dụng học thuyết hai nhân tố của Herzberg và chỉ số mô tả công việc (JDJ) của Smith, Kendall và Hulin (1969). Theo đó, nhân tố tạo động lực đƣợc chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố nội tại gồm bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến và nhóm nhân tố bên ngoài gồm lƣơng, sự hỗ trợ của cấp trên và mối quan hệ với đồng nghiệp. Brooks (2007) đã tiến hành nghiên cứu bằng cách phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi gồm 53 biến quan sát đối với 181 ngƣời làm các công việc khác nhau trên nƣớc Mỹ. Tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu sau: Sơ đồ 1.1: Mô hình nghiên cứu của M.
Brooks Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc kết hợp giữa hai yếu tố thiết lập mục tiêu và sự hài lòng trong công việc là cách tốt nhất dự đoán động lực làm việc của nhân viên; các yếu tố ảnh hƣởng mạnh mẽ đến hài lòng của nhân viên bao gồm: đánh giá hiệu quả công việc, đào tạo, cấp trên, đóng góp vào tổ chức. Trong nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011), tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực làm việc để tiến hành cuộc khảo sát với nhân viên bán hàng tại Malaysia. Kết quả các phân tích đã chứng minh rằng động lực quan trọng nhất là điều kiện làm việc, sự công nhận. Các bằng chứng kết luận rằng các nhân tố duy trì hiệu quả hơn nhân tố động viên trong việc tạo động lực cho nhân viên bán hàng.2: Mô hình nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011) Marko Kukanja (2012) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của các nhân viên trong ngành dịch vụ du lịch tại khu vực ven biển Piran của Slovenia.
Nghiên cứu đã tiến hành đối với 191 nhân viên làm việc tại các quán bar, nhà hàng, quán café, kết quả cho thấy rằng tiền lƣơng là yếu tố quan trọng nhất, tiếp theo là phúc lợi xã hội và thời gian làm việc linh hoạt; yếu tố đào tạo đƣợc đánh giá ít quan trọng nhất. Shaemi Barzoki và các cộng sự (2012) đã tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực của nhân viên dựa trên học thuyết của Herzberg.3: Mô hình nghiên cứu của ShaemiBarzoki và các cộng sự (2012) Theo nghiên cứu của Barzoki và cộng sự, có 7 yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của nhân viên mà tác giả đề xuất gồm: an toàn nghề nghiệp, chính sách của công ty, mối quan hệ với đồng nghiệp, giám sát và mối quan hệ với cấp trên, điều kiện làm việc, cuộc sống cá nhân, tiền lƣơng và thƣởng. Sau khi tìm hiểu nhiều nghiên cứu về tạo động lực làm việc đối với ngƣời lao động, có thể nhận thấy rằng học thuyết hai nhân tố của Herzberg và học thuyết nhu cầu của Maslow là một trong những học thuyết đƣợc sử dụng rất phổ biến hiện nay. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng tới động lực làm việc sẽ cung cấp thông tin cho các nhà quản lý xác định đƣợc yếu tố nào tác động mạnh đến động lực làm việc của ngƣời lao động, tạo tiền đề xây dựng cơ chế khuyến khích cho ngƣời lao động nhằm tăng hiệu quả quản trị nhân lực trong doanh nghiệp.
Các công trình nghiên cứu trong nước 1. Một số nghiên cứu về động lực làm việc Đối với các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nƣớc về động lực làm việc có thể kể đến: Nguyễn Quang Cƣờng (2016), qua đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động. Sau khi tiến 9 hành phân tích thực trạng của công tác tạo động lực làm việc tại Techcombank Đà Nẵng, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiện công tác tạo động lực làm vệc cho cán bộ và nhân viên tại Techcombank Đà Nẵng trong thời gian tới. Hi vọng với sự chuyên nghiệp và tính cầu thị của lãnh đạo Techcombank Đà Nẵng, các chính sách tạo động lực làm việc đƣợc áp dụng sẽ đạt đƣợc những thành công nhƣ mong đợi.
Nguyễn Thanh Hải (2019), nghiên cứu đã xác định đƣợc 6 yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của nhân viên Vietcombank Bình Dƣơng với thứ tự quan trọng đƣợc sắp xếp nhƣ sau: (1) Công việc phù hợp; (2) Đào tạo và thăng tiến; (3) Điều kiện làm việc; (4) Thu nhập và phúc lợi; (5) Quan hệ lao động; (6) Thƣơng hiệu văn hóa công ty. Từ kết quả phân tích, tác giả đề xuất các giải pháp và xây dựng kế hoạch hành động nhằm thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên Vietcombank Bình Dƣơng theo thứ tự quan trọng và cấp thiết của từng vấn đề. Nguyễn Thị Bích Lan (2021), luận án quan niệm tạo động lực cho giảng viên trƣờng chính trị là quá trình sử dụng tổng hợp cách thức, biện pháp của các cơ quan có thẩm quyền, của các nhà lãnh đạo nhằm khơi dậy niềm khát khao, sự hoạt động tích cực và niềm tin của giảng viên để họ nỗ lực phấn đấu giảng dậy, nghiên cứu.