Chương 1: Cơ sở lý thuyết. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Phương hướng tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng 47.
Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Từ trước đến nay các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh cao, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng và phát triển, đầu tư thêm thiết bị, phương tiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, nâng cao đời sống người lao động.
Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả. “Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra.” Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred - Kuhn và quan điểm này được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng và tính hiệu quả kinh tế của các quá trình sản xuất kinh doanh.
Tác giả Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” (Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2001, tr. Trong nghiên cứu đã công bố của mình, tác giả Đỗ Tiến Tới cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh chính là thước đo tăng trưởng cho các doanh nghiệp, là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nào và là vấn đề quan trọng nhất trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh phản 12 ánh trình độ quản lý và sử dụng các nguồn lực của các doanh nghiệp sao cho tối đa hóa kết quả đạt được và tối thiểu hóa chi phí bỏ ra để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định trong các giai đoạn và hướng tới mục tiêu lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp” (Đỗ Tiến Tới, 2018, tr. Còn tác giả Đỗ Huyền Trang định nghĩa về hiệu quả kinh doanh như sau: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế được biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trưng thiết lập trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra với chi phí hoặc các yếu tố đầu vào, qua đó phản ánh trình độ sử dụng chi phí hoặc các yếu tố đầu vào nhằm đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội” (Đỗ Huyền Trang, 2021, tr.
Tóm lại, hiệu quả kinh doanh có thể được hiểu như sau: “Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu sản xuất, kinh doanh, với hao phí nguồn lực bỏ ra ít nhất mà đạt được kết quả cao nhất”. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là thước đo thành quả quan trọng của doanh nghiệp trong quản trị. Thông qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh cho phép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào), đồng thời phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm chi phí, tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu phản ánh kết quả thu được trong mối liên hệ với nguồn lực đã sử dụng (tài sản, nguồn vốn, lao động, chi phí,.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế 13 quốc dân. Hiệu quả đó bao gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Thực chất của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp được xét trong một kỳ nhất định. Các chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả kinh doanh là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ của các nhà quản lý, căn cứ đưa ra quyết định trong tương lai.
Tuy nhiên độ chính xác của các chỉ tiêu phân tích phụ thuộc vào nguồn số liệu, thời gian và không gian phân tích. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh được xác định bằng công thức dưới đây: + Công thức so sánh giữa kết quả đầu ra và yếu tố đầu vào: Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = (1) Yếu tố đầu vào + Công thức so sánh giữa yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra: Yếu tố đầu vào Hiệu quả kinh doanh = (2) Kết quả đầu ra Công thức (1) phản ánh cứ một đồng yếu tố đầu vào thì tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra, kết quả tính được càng lớn thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt. Còn công thức (2) phản ánh cứ một đồng kết quả đầu ra thì cần bao nhiêu đồng yếu tố đầu vào, kết quả tính được càng thấp thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao. Kết quả đầu ra và yếu tố đầu vào có thể đo bằng thước đó hiện vật hay thước đo giá trị tuỳ theo mục đích của việc phân tích.
Phân loại hiệu quả kinh doanh Phạm trù hiệu quả kinh doanh được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, chính vì vậy việc phân loại hiệu quả kinh doanh là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu quả. Theo các cách phân loại dựa trên những tiêu chí khác nhau giúp đánh giá một cách tổng quát về hiệu quả kinh doanh, do vậy có các cách phân loại như sau: Căn cứ vào đối tượng cần đánh giá hiệu quả, có hai loại hiệu quả: + Hiệu quả kinh tế – xã hội: Thể hiện sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế như tạo việc làm, tăng nguồn thu 14 ngân sách, nâng cao đời sống người dân,. + Hiệu quả kinh tế cá biệt: Thể hiện kết quả kinh doanh cũng như những lợi ích mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động kinh doanh. Đó có thể là doanh thu hoặc có thể là lợi nhuận mà doanh nghiệp mang về.
Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu quả, có hai loại hiệu quả: + Hiệu quả chi phí tổng hợp: Thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và tổng hợp chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Hiệu quả chi phí bộ phận: Thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí của từng yếu tố cần thiết đã được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Căn cứ vào chỉ tiêu phản ánh hiệu quả, có hai loại hiệu quả: + Hiệu quả tuyệt đối: Là lượng hiệu quả được xác định cho từng phương án kinh doanh trong từng kỳ kinh doanh. Đây chính là phần chênh lệch giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để có được kết quả đó.
+ Hiệu quả tương đối: Được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án kinh doanh khác nhau trong một kỳ kinh doanh hoặc giữa các kỳ kinh doanh với nhau. Lý thuyết hệ thống Lý thuyết hệ thống khởi đầu từ nghiên cứu hệ thống tổng quát của Bertalandffy về hệ thống mở và các trạng thái cân bằng động. Sau đó, lý thuyết này dần được nghiên cứu chuyên sâu dưới nhiều góc độ như sinh học, kỹ thuật,. Theo quan điểm của Bertalandffy, hệ thống được định nghĩa là “một tập hợp các phần tử tương tác với nhau nhằm duy trì sự tồn tại và đạt được mục đích chung” (Bertalandffy, 1968, p.
Theo đó, mỗi hệ thống được xem là một thực thể bao gồm nhiều thành phần liên quan và phụ thuộc lẫn nhau, việc thay đổi bất cứ thành 15 phần nào của hệ thống đều ảnh hưởng đến các thành phần khác và tác động đến toàn bộ hệ thống. Lý thuyết hệ thống chỉ ra rằng tổ chức là một hệ thống luôn hoạt động trong một môi trường cụ thể, và các nhà quản trị phải chịu sự tác động của nhiều biến số của môi trường và biến số của tổ chức. Yếu tố đầu vào Quá trình sản xuất Kết quả đầu ra Áp dụng lý thuyết vào đề tài nghiên cứu, có thể phân biệt các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh thành hai nhóm chính, đó là nhóm các nhân tố bên trong (nhân tố chiến lược, nhân tố quản trị, nhân tố nguồn lực, nhân tố năng lực,…) và nhóm các nhân tố bên ngoài (môi trường kinh tế, môi trường ngành, môi trường vĩ mô,…). Đi sâu vào tìm hiểu các nhân tố thuộc hai nhóm trên, tác giả có thể hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, từ đó có thể xác định những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể; đánh giá tác động của các thay đổi môi trường đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; và lập kế hoạch chiến lược và chiến thuật phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Lý thuyết quản trị tài nguyên Theo cuốn “Project Management Body of Knowledge” của tổ chức Project Management Institute (2013), có thể hiểu quản trị tài nguyên được định nghĩa là hoạt động xác định các nguồn lực cần thiết (con người, công cụ, nguyên vật liệu…) và phân bổ chúng hợp lý để hoàn thành dự án hiệu quả. Quản trị tài nguyên giúp nhà quản lý xác định được nhu cầu thực tế của dự án, tận dụng được các nguồn lực của DN hiệu quả và dự báo được những rủi ro trong dự án.