Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng Báo cáo tài chính của Công ty Cổ Phần May Sông Hồng Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các giải pháp và kết luận. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2.1 Tổng quan Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp.
Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành Báo cáo tài chính được sử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp. Lập báo cáo tài chính là quy định bắt buộc của nhà nước đối với các doanh nghiệp. Báo cáo tài chính ghi nhận lại tình hình tài chính, kết quả kinh doanh đã đạt được trong quá khứ. Theo quy định trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam và quy định của pháp luật hiện hành thì báo cáo tài chính bao gồm 4 loại báo cáo như sau: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính.1 Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là hệ thống các thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo mẫu biểu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kinh doanh cũng như luồng tiền của một doanh nghiệp.
(Nguồn: Luật Kế toán số 88/2015/QH13) Báo cáo tài chính hợp nhất: là báo cáo được lập dựa trên cơ sở hợp nhất các báo cáo tài chính của công ty mẹ và công ty con nhằm cung cấp những thông tin về vấn đề kinh tế tài chính cho việc đánh giá tình hình kinh doanh của tập đoàn trong kỳ kế toán. Báo cáo tài chính riêng lẻ : Là báo cáo phản ảnh tình hình tài chính, kinh doanh của một doanh nghiệp. Báo cáo tài chính có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các thông tin hữu ích cho các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Theo chuẩn mực báo cáo 6 tài chính quốc tế (IFRS), Báo cáo tài chính cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế của đơn vị báo cáo, yêu cầu đối với đơn vị và những thay đổi trong các nguồn lực và yêu cầu đó, đáp ứng các định nghĩa về các yếu tố của báo cáo tài chính.
Trong Luật kế toán năm 2015, đã định nghĩa “Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán”. Phạm Đức Cường (2017) đã định nghĩa “Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. BCTC cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả HĐKD của doanh nghiệp. BCTC là sản phẩm cuối cùng của kế toán tài chính, phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh, sự vận động của dòng tiền trong doanh nghiệp và các quan hệ tài chính của một doanh nghiệp tại thời điểm hay thời kỳ nhất định”.
Trong khi đó, Nguyễn Văn Công (2019) đã nêu ra khái niệm về báo cáo tài chính như sau: “BCTC là những báo cáo tổng hợp về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và dòng tiền trong kỳ của DN. Nói cách khác, BCTC là phương tiện trình bày khả năng sinh lợi và thực trạng tài chính của DN cho những người quan tâm. Thông qua BCTC, những người sử dụng thông tin có thể đánh giá, phân tích và chuẩn đoán được thực trạng và an ninh tài chính, nắm bắt được kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán, xác định giá trị DN, định rõ tiềm năng cũng như dự báo được nhu cầu tài chính cùng những rủi ro trong tương lai mà DN có thể phải đương đầu”. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và từ những quan điểm nêu trên về khái niệm Báo cáo tài chính, có thể định nghĩa Báo cáo tài chính như sau: Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp thể hiện năng lực tài chính, phản ánh tình hình doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ hoạt động.
Dựa vào Báo cáo tài chính, các đối tượng quan tâm có thể đưa ra các quyết định phù hợp.2 Báo cáo tài chính hợp nhất và một số đặc thù của báo cáo tài chính hợp nhất. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 25 được ban hành theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính thì báo cáo tài chính hợp nhất được định nghĩa “Là báo cáo tài chính của một tập đoàn được trình bày như báo cáo tài chính của một doanh nghiệp. Báo cáo này được lập trên cơ sở hợp nhất báo cáo của công ty mẹ và các công ty con theo quy định của chuẩn mực này.” 7 Báo cáo tài chính hợp nhất có sự khác biệt so với báo cáo tài chính riêng lẻ. Báo cáo tài chính hợp nhất được lập khi một công ty có quyền kiểm soát với công ty khác và tổng hợp toàn bộ tình hình tài chính, kinh doanh của toàn bộ tập đoàn bao gồm cả công ty mẹ và các công ty con.
Trong khi đó, báo cáo tài chính riêng lẻ chỉ thể hiện tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của duy nhất công ty mẹ mà thôi. Có một số chỉ tiêu mà chỉ trên báo cáo tài chính hợp nhất mới thể hiện như: Lợi thế thương mại ở phần tài sản, lợi ích của cổ đông thiểu số ở phần nguồn vốn và lợi nhuận thuộc cổ đông không kiểm soát ở báo cáo kết quả kinh doanh. Phạm vi của báo cáo tài chính hợp nhất: Công ty mẹ khi tiến hành lập báo cáo tài chính hợp nhất phải hợp nhất báo cáo tài chính của tất cả các công ty con ở trong và ngoài nước, ngoại trừ các trường hợp dưới đây công ty mẹ sẽ kế toán các khoản đầu tư vào công ty con loại này theo quy định tại chuẩn mực kế toán “Công cụ tài chính” như: - Quyền kiểm soát của công ty mẹ chỉ là tạm thời vì công ty con này được mua và nắm giữ cho mục đích bán lại trong tương lai gần (dưới 12 tháng). - Hoạt động của công ty con bị hạn chế trong thời gian dài và điều này ảnh hưởng đáng kể tới khả năng chuyển vốn cho công ty mẹ.
Báo báo tài chính hợp nhất cần đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin kinh tế, tài chính của người sử dụng báo cáo tài chính của tập đoàn. Báo cáo tài chính hợp nhất phải thể hiện được các thông tin về tập đoàn như một doanh nghiệp độc lập không tính đến ranh giới pháp lý của các pháp nhân riêng biệt. Báo cáo tài chính hợp nhất bao gồm việc hợp nhất báo cáo tài chính của tất cả các công ty con do công ty mẹ kiểm soát. Quyền kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con được xác định khi công ty mẹ nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết ở công ty con (công ty mẹ có thể sở hữu trực tiếp công ty con hoặc sở hữu gián tiếp công ty con qua một công ty con khác) trừ trường hợp đặc biệt khi xác định rõ là quyền sở hữu không gắn liền với quyền kiểm soát.
Trong các trường hợp sau đây, quyền kiểm soát còn được thực hiện ngay cả khi công ty mẹ nắm giữ ít hơn 50% quyền biểu quyết tại công ty con: - Các nhà đầu tư khác thoả thuận dành cho công ty mẹ hơn 50% quyền biểu quyết; - Công ty mẹ có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động theo quy chế thoả thuận; - Công ty mẹ có quyền bổ nhiệm hoặc bãi miễn đa số các thành viên Hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương; 8 - Công ty mẹ có quyền bỏ đa số phiếu tại các cuộc họp của Hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương. Khi hợp nhất báo cáo tài chính, báo cáo tài chính của công ty mẹ và các công ty con sẽ được hợp nhất theo từng khoản mục bằng cách cộng các khoản tương đương của tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu nhập khác và chi phí. Để báo cáo tài chính hợp nhất cung cấp được đầy đủ các thông tin tài chính về toàn bộ tập đoàn như đối với một doanh nghiệp độc lập.Báo cáo tài chính của công ty mẹ và các công ty con sử dụng để hợp nhất báo cáo tài chính phải được lập cho cùng một kỳ kế toán. Báo cáo tài chính hợp nhất được lập phải áp dụng chính sách kế toán một cách thống nhất cho các giao dịch và sự kiện cùng loại trong những hoàn cảnh tương tự.
Lợi ích cổ đông không kiểm soát là một phần của kết quả hoạt động thuần và giá trị tài sản thuần của một công ty con được xác định tương ứng cho các phần lợi ích không phải do công ty mẹ sở hữu một cách trực tiếp/gián tiếp thông qua các công ty con (theo Chuẩn mực kế toán số 25). Khoản mục này chỉ xuất hiện trên Báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn, mà không xuất hiện trên Báo cáo tài chính riêng của Công ty mẹ, hoặc Báo cáo tài chính của Công ty con. Lợi ích của cổ đông không kiểm soát được trình bày Báo cáo như sau: Trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất - Mã số 62: Lợi nhuận sau thuế của cổ đông không kiểm soát.