lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục… 4 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, vai trò của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 1.Báo cáo tài chính Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định [10; tr 46]. Theo sự tổng hợp của Nguyễn Năng Phúc (2014), báo cáo tài chính có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo đó, chuẩn mực kế toán Quốc tế số I "IASI" cho rằng báo cáo tài chính là bản cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh tài chính, lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Đây là cách hiểu theo nội dung trong báo cáo tài chính. Viện kế toán công chứng Mỹ (AICPA) thì khái niệm" Báo cáo tài chính được lập nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét định kỳ hoặc báo cáo về quá trình, tình hình đầu tư trong kinh doanh và những kết quả đạt được trong kì báo cáo" [15]. Như vậy, "Báo cáo tài chính là một bản báo cáo thể hiện tình hình hoạt động tài chính của một chủ thể kinh tế nhất định, phản ánh tài sản, nguồn vốn, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định, thường là quý hoặc năm".
Theo quy định của luật pháp Việt Nam,báo cáo tài chính bao gồm các mẫu biểu báo cáo sau: - Bảng cân đối kế toán - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ - Thuyết minh báo cáo tài chính 5 Mọi doanh nghiệp cần phải báo cáo tài chính, ngoài việc thực hiện theo đúng yêu cầu của pháp luật (nhằm đảm bảo quản lý nhà nước về kinh tế) còn giúp các chủ thể (là các doanh nghiệp) khẳng định trạng thái tài chính của doanh nghiệp. Từ đó có những quyết định quản lý đúng đắn, là cơ sở để kêu gọi đầu tư, và xây dựng kế hoạch cho doanh nghiệp trong tương lai. Phân tích báo cáo tài chính Ở những góc độ khác nhau sẽ có cách hiểu khác nhau về phân tích báo cáo tài chính. Phân tích báo cáo tài chính là quá trình thống kê, phân tích, so sánh, đánh giá số liệu về tài chính trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đưa ra những thông tin cần thiết, từ đó đánh giá được hiệu quả tài chính của doanh nghiệp [11].
Phân tích báo cáo tài chính cũng có thể hiểu "là quá trình phân loại, tính toán các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính theo những tiêu chí khác nhau, thông qua các kỹ thuật liên hệ, so sánh, đối chiếu và phân tích nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho nhà quản lý ra quyết định". Vai trò của phân tích báo cáo tài chính Phân tích báo cáo tài chính có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp. Cụ thể: Thứ nhất, giúp cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý nắm bắt chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thứ hai, cung cấp các thông tin cần thiết cho các đối tượng có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp như các nhà quản trị doanh nghiệp, các đối tác mua bán, đầu tư, khách hàng, nhân lực trong doanh nghiệp hoặc các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý doanh nghiệp.
6 Thứ ba, để đánh giá mức độ rủi ro tài chính thông qua hệ thống các chỉ tiêu khác nhau, từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp đề ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra, tạo ra niềm tin cho đối tác cho vay, nhà đầu tư, tăng cường khả năng sinh lợi từ đó nâng cao đời sống cho người lao động [15]. Nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 1. Phân tích cấu trúc tài chính Báo cáo tài chính chia thành hai bộ phận chính là nguồn vốn và tài sản. Cấu trúc tài chính là cấu trúc của các bộ phận cấu thành nên báo cáo tài chính.
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp, khi phân tích cấu trúc tài chính sẽ thấy được lợi thế cũng như những hạn chế trong tài chính của doanh nghiệp mình. Từ đó có những quyết định đúng đắn, các giải pháp thiết thực nhằm cải thiện tình hình tài chính cho doanh nghiệp. Phân tích cơ cấu tài sản Cấu tài sản là tỷ lệ phần trăm của các bộ phận cấu thành nên tài sản so với tổng tài sản mà doanh nghiệp có, đó xác định cách thức phân bổ vốn mà chủ doanh nghiệp đã bỏ ra; so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu đó với các doanh nghiệp cùng ngành hoặc với mức trung bình toàn ngành. Công thức được xác định: Tỷ trọng của từng bộ phận tài Giá trị từng bộ phận tài sản = x 100 (1) sản chiếm trong tổng tài sản Tổng tài sản Sau khi tính toán tỷ lệ các thành phần tài sản, có thể trình bày vào bảng nhằm tạo thuận tiện cho việc theo dõi và đánh giá (bảng 1.
Phân tích cơ cấu tài sản Kỳ gốc Kỳ phân tích Chênh lệch Tỷ Tỷ Tỷ Tài sản Số Số Số trọng trọng trọng tiền tiền tiền (%) (%) (%) A. Tài sản ngắn hạn 1. Tiền và tương đương tiền 2. Đầu tư tài chính ngắn hạn 3.
Phải thu ngắn hạn 4. Hàng tồn kho 5. Tài sản dài hạn khác B. Tài sản dài hạn 1.
Phải thu dài hạn 2. Tài sản cố định 3. Đầu tư tài chính dài hạn 4. Tài sản dài hạn khác Tổng cộng Nguồn: [16] Căn cứ vào bảng trên, sự thay đổi và mức độ thay đổi về cơ cấu tài sản được thể hiện rất rõ ràng.
Phân tích cơ cấu nguồn vốn Trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp, nguồn vốn được cấu thành bởi vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. 8 Đối với vốn chủ sở hữu. Đây là lượng vốn của chủ doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư đầu tư vào doanh nghiệp. Chỉ tiêu này thể hiện mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp.
Đối với nợ phải trả, nó phản ánh lượng vốn là doanh nghiệp tận dụng từ các đối tượng khác như khách hàng, đối tác… để sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này thể thiện sự tín nhiệm, trach nhiệm trả nợ của doanh nghiệp. Cơ cấu nguồn vốn được đo bằng tỷ lệ phần trăm của các bộ phận trong nguồn vốn so với tổng nguồn vốn mà doanh nghiệp có. Công thức xác định như sau: Giá trị từng bộ phận Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm = nguồn vốn x 100 (2) trong tổng nguồn vốn Tổng nguồn vốn Sau khi tính toán cơ cấu thì có thể trình bày cơ cấu nguồn vốn như bảng 1.
Phân tích cơ cấu nguồn vốn Kỳ gốc Kỳ phân tích Chênh lệch Nguồn vốn Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ tiền trọng tiền trọng tiền trọng (%) (%) (%) A. Nợ phải trả I. Nợ ngắn hạn II. Nợ dài hạn B.
Nguồn vốn chủ sở hữu 1. Nguồn vốn chủ sở hữu 2. Nguồn kinh phí và quỹ khác Tổng cộng Nguồn: [16] 9 Tương tự tài sản, khi trình bày như bảng 1.2, những đối tượng quan tâm có thể dễ dàng nắm bắt cách phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp, cũng như mức độ hiệu quả của nguồn vốn. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn Sau khi xác định được cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn, về nguyên tắc kế toán, luôn có sự cân bằng giữa 2 yếu tốt này.
Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau: - Hệ số nợ so với tài sản (hệ số nợ): Nợ phải trả Hệ số nợ so với tài sản = (3) Tài sản Hệ số nợ so với tài sản đo lường mức độ tài trợ của tài sản đối với các khoản nợ. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các khoản phải trả phụ thuộc lớn vào tài sản, trong khi các yếu tố về tài sản thưởng chậm mang lại lợi nhuận nên khả năng độc lập tài chính giảm. Ngược lại, hệ số nợ so với tài sản càng thấp thì khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp càng cao.ngoài ra còn có các chỉ tiêu. - Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu (Đòn bẩy tài chính): Tài sản Hệ số tài sản so với VCSH = (4) Vốn VCSH Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ độc lập về tài chính càng giảm do tài sản được đầu tư nhiều bởi các khoản nợ [11; tr. Phân tích tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn 1. Phân tích tính thanh khoản của các khoản phải thu (T) Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng bằng bao nhiêu phần trăm so với các khoản doanh nghiệp chiếm dụng của các tổ chức, cá nhân khác. Chỉ tiêu này được tính theo công thức: Tỷ lệ các khoản nợ phải Tổng số nợ phải thu thu so với các khoản nợ = (5) Tổng nợ phải trả phải trả Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn càng nhiều và ngược lại.
Nếu T > 1: sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp vì các khoản phải thu quá lớn sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng vốn. Do đó, doanh nghiệp phải có biện pháp thu hồi nợ, thúc đẩy quá trình thanh toán đúng hạn. Nếu T < 1: T có giá trị càng nhỏ, với phương thức thanh toán không thay đổi theo đúng thời hạn quy định chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi vốn tốt, công nợ và số vốn đi chiếm dụng được càng nhiều. - Số vòng quay các khoản phải thu Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ kinh doanh các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng.
Chỉ tiêu này được tính theo công thức: Tổng doanh thu Số vòng quay các = Bình quân các khoản (6) khoản phải thu phải thu Trong đó, bình quân các khoản phải thu dc tính theo công thức: Tổng số nợ phải thu đầu k cuối k B nh quân các khoản phải thu 11 Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư của các khoản phải thu, hiệu quả của việc thu hồi nợ. Nếu các khoản phải thu được thu hồi nhanh thì số vòng luân chuyển các khoản phải thu sẽ cao và công ty ít bị chiếm dụng vốn.