chương 1, tác gia đã trình bày các công trình nghiên cứu trước đó do các nhà khoa học, các tiến sĩ, thạc sĩ ở cả trong và ngoài nước. Tìm hiểu những nghiên cứu đó đã giúp tác giả tìm ra được khoảng trồng nghiên cứu và từ đó làm cơ sở minh chứng cho tính cấp thiết của đề tài mà tác giả đã lựa chọn dé nghiên cứu trong bài khóa luận của mình. Tại các chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết có liên quan đến nội dung của đề tài để dé hiểu rõ hơn về thực trạng vận dụng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT. 13 CHUONG 2: CO SỞ LÝ THUYÉT VE KE TOÁN QUAN TRI VA CÁC NHAN TO ANH HUONG DEN VIEC VAN DUNG KE TOAN QUAN TRI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUONG MẠI 2.
Tổng quan về kế toán quản trị 2. Khái niệm về kế toán quản trị Sự hình thành của kế toán bắt nguồn từ nhu cầu thông tin và phát triển theo sự thay đôi của người sử dụng về nhu cau thông tin. Và KTQT cũng vậy, nhà quản trị trong nội bộ DN cần thông tin và chính sự thay đổi nhu cầu thông tin của nhà quản trị đã thúc day sự phát triển của KTQT, nâng cao tính chuyên môn hóa của kế toán theo định hướng cung cấp thông tin quản trị dưới những hình thức khác nhau trong các loại hình DN. Theo bộ luật Kế toán Việt Nam ( năm 2003 ) và thông tư 53/2006/TT- BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính hướng áp dụng KTQT DN: “Việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản tri và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ don vị kế toán được xem là KTOT” Theo Ronald W.Hilton, giáo su đại hoc Cornell ( Mỹ ): “ KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản tri trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức”.Garrison: “ KTQT có liên hệ với việc cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tô chức” Theo các giáo sư đại học South Florida là Jack L.
Keith va William L.Stephens: “ KTQT là một hệ thong kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ can để hoạch định và kiểm soái. (2002) thì KTOQT là một hệ thống thu thập, xử ly và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho các nha quản tri trong nội bộ DN dé hoạch định, kiểm soát và ra quyết định, nhằm quản lý và sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực DN; qua đó gia tăng giá trị khách hàng và giá trị cô đông. Theo Viện KTQT (IMA), "KTQT là một nghề liên quan đến việc hợp tác trong việc ra quyết định quản lý, lập kế hoạch và hệ thống quản lý hiệu suất, đồng thời cung cấp kiến thức chuyên môn về kiểm soát và báo cáo tài chính dé hỗ trợ ban quản lý trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch chiến lược của tổ chức Ben Mulling, Giám đốc tài chính của TENTE Casters đưa ra quan điểm rằng : “KTQT là nhằm giúp người dùng của bạn và công ty đưa ra quyết định tốt nhất có thé dua trên thông tin có sẵn cho họ”. Điều nảy bao gồm việc đưa ra các quyết định như đầu tư vốn , cơ cấu hoạt động và đánh giá rủi ro cơ bản Ngoài những định nghĩa nêu trên, chúng ta có thé hiểu một cách đơn giản rằng KTQT là việc cung cấp thông tin để các nhà quản lý đưa ra quyết định tài chính hoặc phi tài chính.
Hay nói cách khác, thông qua KTQT, những người điều hành DN có thể đưa ra một quyết định. Điều này hướng tới việc phân biệt, kiểm tra, giải mã và truyền đạt dữ liệu cho người quản lý dé đạt được mục tiêu kinh doanh đề ra. Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các DN, giữa các quốc gia trong tong thé nền kinh tế đã dẫn đến sự phát triển của KTQT. Và KTQT chính là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin kế toán nói chung trong DN.
Đối với DN, đây là một phần quan trọng bởi DN có đưa ra quyết định sáng suốt hay không nằm ở thông tin KTQT. Việc nghiên cứu KTQT không có một 15 quy tắc nhất định, nó được xét từ nhiều quan điểm và dưới nhiều góc độ khác nhau. Cũng có thể nhận định rằng, KTQT là một nghề đầy thách thức nhưng lại rất có ích và đòi hỏi người sử dụng phải am hiểu và có nhiều kỹ năng. Nó chính là sự kết hợp hoàn hảo của kế toán, tài chính va quan tri dé tao ra su thanh công cua một DN.
Tong kết lai những khái niệm được nêu ở trên, tac giả rút ra những điểm chung nhất khi bàn về KTQT như sau: + Đây là một hệ thống kế toán cung cấp các thông tin định lượng. + Thông tin KTQT được sử dụng bởi các đối tượng thuộc tổ chức, đơn vị đó. + Người sử dụng thông tin KTQT sử dụng với mục đích dé hoạch định, kiểm soát các hoạt động của tổ chức, đơn vị và đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa. Vai trò của kế toán quản trị KTQT đề cập đến chức năng theo dõi chi phí nội bộ cho bat kỳ quy trình kinh doanh nào giúp tổ chức, công ty hoặc cá nhân đưa ra các quyết định liên quan đến sản xuất, vận hành và đầu tư trên thị trường.
Các công ty cần KTQT dé biết hiệu quả của ngân sách, chi phí hoạt động của họ và sau đó phân bổ ngân sách phù hợp trong sản xuất, kinh doanh và đầu tư. Do đó, vai trò của một KTQT là rất quan trọng đối với sự thịnh vượng của một công ty. Vai trò và trách nhiệm của nó to lớn đến mức chỉ một tính toán sai lầm hoặc đánh giá thấp bat kỳ kế hoạch kinh doanh nào của kế toán quản lý cũng có thé khiến tương lai của công ty gặp nguy hiểm. Vai trò của KTQT bao gồm thu thập, ghi chép và báo cáo dữ liệu tai chính từ một số đơn vị của một tổ chức, quan sát và phân tích ngân sách của họ va dé xuât tài trợ và phân bô.
Điêu này bao gôm ước tính chi phí nguyên liệu 16 thô, lao động, sản xuất, bán hàng và quảng cáo, mạng truyền thông xã hội, vận động hành lang và chi phí hoạt động nội bộ của công ty. KTQT cần phối hợp với tất cả các bộ phận liên quan dé phan tich tong thé về vốn hoạt động của công ty và khả năng cung cấp vốn, sau đó báo cáo tất cả thông tin cho quản lý cấp cao và ban giám đốc. Do đó, CFO là nguồn thông tin mà các giám đốc và CEO yêu cầu dé đưa ra quyết định. Vai trò chính của KTQT là lập ngân sách.
Đối với một công ty nhỏ, ngân sách là kim chỉ nam cho tất cả các khoản chi tiêu. Cac DN nhỏ quyết định ngân sách hàng năm dé ấn định chi phí của họ cho từng quy trình là chi phí vận hành và sản xuất, sau đó đầu tư thêm. Vì vậy, ở đây KTQT phải xem xét di liệu lịch sử dé chuẩn bị dự đoán chính xác về chi phi trong tương lai của một năm. Ngân sách đảm bảo sự phối hợp giữa doanh nhân và nhân viên của mình trong việc thực hiện tất cả các kế hoạch cho năm tới.
Nhìn chung vai trò của KTQT gắn liền với 4 nhiệm vụ của các nhà quan tri: « _ Lập kế hoạch: Kế hoạch chính là bức tranh tổng thé trong tương lai của DN. Hoặc cũng có thê là các chỉ tiêu kinh tế và các biện pháp đề đạt được các mục tiêu đó. Các giám đốc DN luôn vạch ra kế hoạch kinh doanh rõ ràng vào đầu các năm tài chính với mục tiêu là mang lại tối đa doanh thu và lợi nhuận cho công ty. Kế hoạch này có thé gan liền với các mục tiêu ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn.
Khi lên kế hoạch cho DN, giám đốc DN cần phối hợp với tat cả các nhân sự của các bộ phận trong công ty dé tập trung hướng tới mục tiêu đã xác định. + _ Tổ chức công tác điều hành: Vai trò này nhằm truyền đạt lại các chỉ tiêu kế hoạch cho các bộ phận trong DN. Trong việc tổ chức quản tri, nhà quản lý sẽ quyết định cách thức liên kết tốt nhất giữa tổ chức, nhân sự với các nguôn lực lại với nhau sao cho kê hoạch đê ra được thực hiện 17 một cách hiệu quả nhất. Trong việc điều hành công ty, các nhà quản lý theo dõi hoạt động hàng ngày và kiểm soát cho cả tô chức hoạt động trôi chảy.
¢ _ Kiểm soát: Sau khi đã vạch ra kế hoạch, chiến lược và tổ chức thực hiện, các giám đốc điều hành sẽ là người kiểm tra và đánh giá tiễn độ thực hiện kế hoạch. Đề thực hiện chức năng kiểm tra, giảm đốc điều hành sử dụng các công cụ cần thiết dé đảm bảo cho việc hoạt động của từng bộ phận và cả tô chức đang đi theo đúng kế hoạch đã lập ra.Trong quá trình kiểm soát tiễn độ, họ sẽ so sánh các hoạt động thực tiễn đã diễn ra với kế hoạch đã thiết lập. Sự so sánh này sẽ chỉ ra công việc thực hiện ở khâu nào chưa đạt yêu cầu và cần sự điều chỉnh như thé nào dé hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu đã đề ra. « Ra quyết định: Đây chính là chức năng cơ bản của KTQT.
Nhà quản lý sẽ dựa vào nguồn thông tin sau đó thu nhập, phân tích, chọn lọc, và dựa vào đó dé có thé đưa ra những quyết định cho từng hoạt động cụ thé nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp cho việc tiết kiệm chỉ phí. Chức năng này được DN sử dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Thông tin chính là nền tảng để các nhà quản trị dựa vào và đưa ra các quyết định phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Do vậy, những người làm công tác kế toán, đặc biệt là KTQT phải sẵn sàng tiếp nhận và đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh chóng, chính xác cho nhà quản trị DN nhằm hỗ trợ hoàn thành tốt việc ra quyết định.
Thông tin KTQT có tính chất ước tính, chú trọng đến những thông tin dự báo, và thường xuyên cung cấp cho các đối tượng thông qua các báo cáo nội bộ hoặc các tài liệu theo yêu cầu quản lý.