Chương 1 đã nêu ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa và bố cục luận văn đã được trình bày ở cuối chương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày tóm lược các khái niệm về nông thôn, Hộ gia đình, khái niệm về thu nhập. Nêu lại tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó xác định nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của Hộ gia đình nông thôn và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. Nông thôn: Khái niệm nông thôn tùy theo điều kiện ở từng quốc gia, khái niệm này luôn biến động theo thời gian và có nhiều định nghĩa khác nhau về tiêu chí.
Nông thôn là một phần lãnh thổ với dân cư chủ yếu làm nghề nông nghiệp, có môi trường tự nhiên, môi trường sống khác biệt với thành thị, điều kiện về kinh tế - xã hội kém phát triển hơn hơn thành thị. Tuy nhiên với điều kiện kinh tế phát triển hiện nay, cảnh quan ở nhiều vùng nông thôn không khác so với thành thị nhiều, thu nhập tăng lên đời sống người dân ngày một thay đổi theo hướng văn minh hơn. Một số khái niệm về nông thôn chúng ta có thể nghiên cứu: “Nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu xã hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình thành từ lâu trong lịch sử. Nông thôn là một hệ thống độc lập tương đối ổn định, là một tiểu hệ không gian-xã hội”.
Theo Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh (2008), nông thôn có thể đồng nghĩa với làng, xóm, thôn,… đó là môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hóa xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống của người Việt. Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, định nghĩa: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã. Như vậy có thể khái quát đặc trưng cơ bản của nông thôn là: - Đó là cộng đồng xã hội mà chủ yếu người dân hoạt động sản xuất với nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Là vùng có thu nhập thấp, trình độ dân cư thấp, điều kiện sống kém hơn so với thành thị.
Có cơ sở hạ tầng: đường, điện, cầu, cống, nước sạch và điều kiện phúc lợi khác như giáo dục, y tế,… thấp hơn so với thành thị. Hộ và Hộ nông thôn: Haviland (2003), Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ, là đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai.
Theo Phạm Thị Ngọc Đào (2012), Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, là các thành viên có tài sản chung, cùng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định và là chủ thể trong các quan hệ sản xuất, kinh doanh đó. Khái niệm Hộ nông dân cũng có thể được định nghĩa như sau: “Nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao” (Ellis, 1998, trích Đào Thế Tuấn, 2003). Tóm lại, Hộ là tập hợp những người có cùng chung mối quan hệ với nhau (có chung huyết thống hoặc là con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận), sống trong cùng một gia đình và được pháp luật công nhận, cùng sinh sống và phát triển kinh tế theo sự phân công lao động đã được thiết lập trước đó. Hộ nông dân có những đặc trưng như sau: Thứ nhất, là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng.
Thứ hai, quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc, trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ ba, các hộ nông dân ngoài tham gia hoạt động nông nghiệp còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau nên khó giới hạn thế nào là một hộ nông dân. Thu nhập: Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng Cục Thống kê (2010) định nghĩa về thu nhập như sau: Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập.
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. Thu nhập của hộ gia đình: Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp. Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa như sau: Thu nhập của Hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm, bao gồm: (1) thu từ tiền công, tiền lương, (2) thu từ sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (3) thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rú tiền kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được). Các nhân tố tác động thu nhập của Hộ gia đình nông thôn Theo Park (1992), trong nghiên cứu của ông, ông cho rằng năng suất lao động là điều kiện để thay đổi thu nhập và đó là nguyên nhân dẫn đến thay đổi thu nhập.
Cùng với ý kiến này Mankiw (2003) cho rằng sự khác biệt trong thu nhập giữa các nước chính là do khác biệt về năng suất lao động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Theo Lewis (1954), Oshima (1993), Barker (2002) cho rằng: năng suất lao động nông nghiệp phụ thuộc vào năng suất đất và quy mô diện tích đất (diện tích đất nông nghiệp tính trên 1 lao động nông nghiệp) (trích bởi Đinh Phi Hổ, 2008). Thu nhập của mỗi cá nhân có được do phải bỏ sức lao động tham gia vào các hoạt động lao động. Trong mỗi hộ gia đình, sự đóng góp sức lao động của mỗi cá nhân mang lại giá trị kinh tế cho gia đình thông qua nguồn thu nhập hàng ngày, hàng tháng hoặc cả một năm cho cả hộ gia đình.
Do đó, để tạo ra sản phẩm có giá trị đòi hỏi phải có nguồn vốn con người tích lũy được thông qua yếu tốt trình độ, kinh nghiệm việc là và các kỹ năng khác của mỗi người khi tham gia lao động. Theo Nguyễn Xuân Thành (2009), cho rằng thu nhập của mỗi lao động bị ảnh hưởng bởi yếu tố số năm đi học và kinh nghiệm làm việc. Theo Scoones (1998), các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình bao gồm: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội. Trong đó vốn tự nhiên bao gồm: đất, nước, không khí, tài nguyên thiên,….là cơ sở cho các hoạt động kinh tế của con người.
Vốn con người mô tả các yếu tố như: giáo dục, lực lượng lao động, giới tính. Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia và sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả lao động của họ. Vốn tài chính bao gồm: các khoản tiết kiệm và tín dụng, cho biết khả năng của một hộ gia đình trong việc tiết kiệm và tiếp cận vốn cho đầu tư và các hoạt động tạo ra thu nhập. Vốn xã hội bao gồm phần lớn xây dựng giữa những con người với nhau: đó là sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau và chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách kết nối thành những thành viên trong các cộng đồng lại với nhau: Sự hiểu biết lẫn nhau và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách kết nội thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau (trích bởi Đinh Phi Hổ, năm 2014).
Bên cạnh đó, Karttunen (2009) cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các yếu tố nhân khẩu xã hội như giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ cùng với tỷ lệ phụ thuộc ảnh hưởng đến thu nhập của Hộ. Các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình nông thôn bao gồm: 2. Nghề nghiệp chính của chủ hộ Đa số người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đều có thu nhập thấp hơn so với các khu vực còn lại (phi nông nghiệp) do lao động trong lĩnh vực nông nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thường sẽ có nhiều rủi ro hơn như: thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường không ổn định. Trong nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) tại địa bàn huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ đã kết luận rằng: với giả định các yếu tố không đổi, nếu chủ hộ làm nghề nông thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 16,35%.
Theo nghiên cứu của Trương Minh Lễ (2010), nghiên cứu về tình trạng nghèo huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã kết luận rằng: khi các yếu tố khác không đổi, nếu hộ này làm nông nghiệp thì dẫn đến thu nhập thấp và xác suất nghèo của hộ tăng lên 80,09%.