Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. 4 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và những gợi ý chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam. LV Quản lý kinh tế 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến rủi ro tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của NHTM. Bên cạnh đó lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây để tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của NHTM. Tổng quan về rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm rủi ro tín dụng Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Quan hệ tín dụng được hình thành và ra đời từ rất lâu. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hình thức quan LV Quản lý kinh tế hệ tín dụng được thể hiện rất đa dạng, phong phú dựa trên các yếu tố chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng như: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước. Trong các hình thức trên có thể nói tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu và phổ biến nhất, bởi vì nó cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các chủ thể của nền kinh tế (Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân, 2017).
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và các cá nhân. Tín dụng ngân hàng có hai đặc trưng cơ bản: (i) một là quan hệ tín dụng dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm giữa ngân hàng và khách hàng, sự tin tưởng của ngân hàng đối với khách hàng chính là lòng tin hay cơ sở khẳng định về khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi; (ii) hai là tính thời hạn và hoàn trả, khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả khoản vay theo cam kết đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng, do đó tín dụng chỉ là quan hệ tạm thời và bao giờ việc chuyển giao quyền sử dụng vốn cũng gắn với một thời hạn nhất định, cho dù đó là thời hạn ngắn, trung hay dài hạn. Chính bởi vậy, nếu một trong hai đặc trưng cơ bản này bị vi phạm thì sẽ dẫn tới rủi ro tín dụng cho ngân hàng. 6 Có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng như sau: Theo Fitch (1997): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động ngân hàng. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sính khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Theo định nghĩa của World Bank: Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả nợ gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Như vậy dù cách thể hiện khác nhau thì khái niệm rủi ro tín dụng được đưa ra đều hội chung ở một điểm là khả năng tổn thất tài sản của ngân hàng có thể phát sinh LV Quản lý kinh tế khi người đi vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán đã được xác lập.
Hành vi vi phạm nguyên tắc hoàn trả có thể là hoặc người đi vay không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đã cam kết. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, bao gồm nguyên nhân từ bên trong ngân hàng và nguyên nhân từ bên ngoài ngân hàng (trong đó từ phía khách hàng vay vốn và từ các yếu tố khách quan bên ngoài). Nguyên nhân từ bên trong ngân hàng Chính sách tín dụng không đầy đủ, không đồng bộ, không thống nhất. Khẩu vị rủi ro của mỗi ngân hàng phản ánh thái độ đối với việc chấp nhận rủi ro ở một giới hạn/mức độ nhất định.
Tùy thuộc vào mục tiêu kinh doanh và khẩu vị rủi ro mà mỗi ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng cho riêng mình. Trước áp lực kinh doanh và cạnh tranh ngày càng gay gắt, các ngân hàng mở rộng tín dụng quá mức dẫn đến việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho ngân hàng. 7 Chất lượng đội ngũ cán bộ liên quan đến công tác thẩm định tín dụng chưa cao: Thiếu kỹ năng trong thẩm định khách hàng, thẩm định tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính dẫn đến không hiểu rõ hoạt động của khách hàng, không nắm được điểm mạnh, điểm yếu của khách hàng. Từ đó không xác định được cách thức quan hệ tín dụng, các biện pháp nghiệp vụ cần thực hiện.
Biểu hiện của những vấn đề này là kết quả thẩm định sơ sài, mờ nhạt, nhiều trường hợp kết quả thẩm định cho thấy khách hàng có nhiều vấn đề tiềm ẩn rủi ro nhưng lảng tránh phân tích, cố tình cấp tín dụng và không có biện pháp phòng ngừa. Bộ phận vận hành tại các ngân hàng không tuân thủ quy trình tín dụng, thiếu giám sát và quản lý sau cho vay: giải ngân không có căn cứ hoặc không đúng đối tượng vay vốn dẫn đến tiền vay được sử dụng vào mục đích khác. Thiếu kiểm tra, quản lý, giám sát sau cho vay hoặc có thực hiện kiểm tra nhưng nặng về việc xem xét chứng từ, không kiểm soát thực tế hoặc kiểm tra tình hình hoạt động sản xuất của khách hàng, kiểm tra đảm bảo nợ vay mang tính lý thuyết, thiếu căn cứ xác định giá LV Quản lý kinh tế trị tài sản thực có dẫn đến hàng hóa thực tế trong kho thấp hơn so với giá trị sổ sách, dẫn đến tình trạng mất cân đối nợ vay. Một số cán bộ thiếu đạo đức, mặc dù không phải là nguyên nhân chủ yếu tuy nhiên mức độ rủi ro, hậu quả xảy ra thường nghiêm trọng.
Ví dụ như cán bộ tiếp tay khách hàng làm giả hồ sơ vay, nâng giá trị tài sản bảo đảm lên quá cao so với giá trị thực tế hoặc thẩm định hồ sơ tài sản này nhưng đánh giá hiện trạng của một tài sản khác, dự án không có hiệu quả nhưng vẫn tính toán có hiệu quả, không đánh giá được rủi ro đối với việc cấp tín dụng đối với khách hàng. Ngoài ra vấn đề rủi ro đạo đức cũng xảy ra khi lãnh đạo của ngân hàng có quan hệ lợi ích với khách hàng, chỉ đạo cho vay không dựa trên cơ sở phương án kinh doanh cụ thể, rõ ràng dẫn đến không kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay, có khả năng gây ra rủi ro cho ngân hàng. Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn Năng lực tài chính của khách hàng không cao, do đó khả năng chịu đựng kém đối với những biến động bất thường của nền kinh tế cũng như thị trường, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh. Ngoài ra năng lực điều hành và quản lý của khách hàng 8 yếu dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng.
Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích so với nhu cầu vay vốn đã cung cấp cho ngân hàng. Phương án vay vốn là căn cứ quan trọng để ngân hàng xem xét cấp tín dụng bên cạnh tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng đối với mục đích vay vốn hợp pháp, phù hợp với ngành nghề kinh doanh đã đăng ký, nhu cầu của khách hàng và phương án sản xuất kinh doanh được ngân hàng thẩm định là hiệu quả, có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên khách hàng lại sử dụng vốn vay của ngân hàng vào mục đích khác so với mục đích đề nghị giải ngân, sử dụng vào các hoạt động có rủi ro cao với kỳ vọng mang lại lợi nhuận cao nhưng kết quả lại không như ý muốn khiến cho khả năng trả nợ cho ngân hàng gặp khó khăn.
Thực tế cho thấy phần lớn các trường hợp khách hàng không còn khả năng trả nợ cho ngân hàng xuất phát từ việc sử dụng vốn vay không đúng với mục đích lúc giải ngân. LV Quản lý kinh tế Khách hàng gian lận, lừa đảo ngân hàng, cố tình cung cấp số liệu không chính xác, gây sai lệch trong công tác thẩm định và quyết định cấp tín dụng của ngân hàng, dẫn đến khó khăn trong việc thu hồi nợ. Đây cũng là nguyên nhân khá phổ biến gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Khách hàng bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, qua mắt ngân hàng để lập hồ sơ vay giả và chiếm đoạt tiền của ngân hàng.
Một khi khách hàng đã cố tình lừa đảo thì rất khó để nhận biết trong bối cảnh chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng còn yếu. Bản thân khách hàng thiếu ý thức, thiếu thiện chí trong việc trả nợ, không lo lắng, không quan tâm đến món nợ đối với ngân hàng. Mặc dù khả năng tài chính của họ vẫn đủ đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng nhưng vẫn chây ì trong việc trả nợ. Nguyên nhân từ các yếu tố khách quan bên ngoài: Các nguyên nhân thuộc về tự nhiên như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh.
Đây là những nguyên nhân khách quan do sự biến đổi của môi trường thiên nhiên. Đây là rủi ro mà cả ngân hàng và khách hàng không mong muốn và cũng không thể lường 9 trước được, khiến khách hàng gặp khó khăn, trở ngại trong hoạt động kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho ngân hàng.