phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục,. nội dung chính của luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch 4 z Chƣơng 2: Phƣơng pháp luận và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Kết luận và đề xuất cải thiện các nhân tố ảnh hƣởng nhằm tăng cƣờng thu hút đầu tƣ vào du lịch tại Phú Thọ 5 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƢ CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH 1. Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hƣởng của địa phƣơng đến quyết định đầu tƣ Vấn đề thu hút đầu tƣ của doanh nghiệp cho một vùng lãnh thổ đã đƣợc các tác giả sớm quan tâm và nghiên cứu trong những thập kỷ gần đây. Những nghiên cứu đã cố gắng lý giải những nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định đầu tƣ của các doanh nghiệp tới một khu vực lãnh thổ hay một địa phƣơng cụ thể.
Trƣớc tiên, tác giả xin kh ng định việc phát huy giá trị vốn có của một lãnh thổ, một địa phƣơng gắn với việc thu hút đầu tƣ của doanh nghiệp là điều kiện tất yếu để phát triển kinh tế địa phƣơng và là một hƣớng đi khôn ngoan nếu địa phƣơng mong muốn phát triển kinh tế vùng. Nhà kinh tế học ngƣời Anh, John Dunning (1979), cho rằng, lợi thế địa điểm riêng là những lợi thế nảy sinh từ việc sử dụng các nguồn lực hoặc tài sản sẵn có gắn liền với một địa điểm cụ thể và cũng là những lợi thế có giá trị khi doanh nghiệp kết hợp những lợi thế địa điểm đó với các tài sản riêng có của mình (ví dụ nhƣ các bí quyết công nghệ, marketing hoặc quản lý của công ty). Do vậy, sự kết hợp những tài sản hay nguồn lực gắn với một địa điểm với những tài sản riêng của doanh nghiệp thông thƣờng đòi hỏi công ty phải tiến hành hoạt động đầu tƣ. Nói nhƣ vậy, hoạt động đầu tƣ không chỉ mang lại lợi ích cho địa phƣơng mà còn cho doanh nghiệp.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hƣởng của địa phƣơng tới quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp thông qua nhiều cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Charmers Johnson (1984), “Introduction: The Idea of Industrial Policy”, trích trong “The Industrial Policy Debate”, cho rằng: Chính sách và đầu tƣ của Chính phủ là một ảnh hƣởng phổ biến, quan trọng và thƣờng xuyên tích cực đối với môi trƣờng kinh doanh và sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia công nghiệp hóa nào. Nhƣ vậy, đội ngũ chính quyền địa phƣơng sẽ giữ vị trí đặc biệt quan trong trong việc điều tiết hoạt động xây dựng chính sách và phát triển hành lang, những chính sách thƣờng phải rõ ràng, chặt chẽ nhƣng cũng cần có sự tinh tế trong việc xác định 6 z thời hạn của các quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp, góp phần vào công cuộc thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế địa phƣơng. Một yếu tố khác, theo Sullivan và Sheffrin (2000), cơ sở hạ tầng là yếu tố ảnh hƣởng tới quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp.
Cơ sở hạ tầng, đƣợc định nghĩa là toàn bộ các mối quan hệ sản xuất cấu thành cấu trúc kinh tế của một xã hội nhất định. Khadaroo và Seetanah (2008) đã lập luận rằng sự tăng trƣởng trong cơ sở hạ tầng đƣợc định nghĩa là một chỉ báo cho hiệu suất vận chuyển cao hơn hoặc chi phí vận chuyển thấp hơn. Theo Kangning Xu (2010), “Attracting Foreign Direct Investment in Developing Countries: Determinants and Policies-A Comparative Study between Mozambique and China”, nghiên cứu về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cho các quốc gia đang phát triển: trƣờng hợp nghiên cứu của Mozambique. Tác giả đã dùng mô hình hồi quy đa biến để phân tích.
Tác giả cho rằng, để thu hút nhà đầu tƣ đầu tƣ vào một quốc gia đang phát triển nhƣ Mozambique thì các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thu hút vốn đầu tƣ bao gồm: (1) Vị trí địa lý và mức độ đầu tƣ cơ sở hạ tầng; (2) Quy mô thị trƣờng; (3) Chính sách xuất khẩu của quốc gia; (4) Tài nguyên thiên nhiên của quốc gia; (5) Nguồn lực về lao động có đáp ứng đƣợc hay không; (6) Rủi ro về môi trƣờng kinh tế và chính trị của một quốc gia. Đứng trƣớc thực trạng nƣớc ta nói chung và nhiều địa phƣơng nói riêng hiện nay chƣa thực sự phát triển về kinh tế và loay hoay trong bài toán chƣa có lời giải thực sự hiệu quả về phát huy lợi thế địa phƣơng để thu hút đầu tƣ doanh nghiệp, nhiều tác giả cũng quan tâm và tích cực nghiên cứu về vấn đề này. Nghiên cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu thứ cấp của Hoàng Thị Thu (2008) chỉ ra rằng các nhân tố có tác động đến dòng vốn FDI vào một địa phƣơng của Việt Nam, gồm: (1) Quy mô thị trƣờng; (2) Tốc độ tăng trƣởng của thị trƣờng; (3) Nguồn nhân lực; (4) Sự phát triển của cơ sở hạ tầng; (5) Mức độ mở cửa, địa lý; (6) Chính sách khuyến khích đầu tƣ. Phạm Công Toàn (2010) với luận án Tiến sĩ “Marketing lãnh thổ với việc thu hút đầu tƣ phát triển ở tỉnh Thái Nguyên”.
Luận án đƣa ra một hƣớng tiếp cận mới trong việc thu hút đầu tƣ phát triển tại các địa phƣơng ở Việt Nam, bằng cách ứng 7 z dụng các nguyên lý marketing lãnh thổ vốn đã đƣợc áp dụng thành công với nhiều vùng quốc gia và lãnh thổ trên Thế giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các điều kiện tự nhiên và xã hội đặc thù của địa phƣơng đòi hỏi quy trình thực hiện phải có sự điều chỉnh trong nội dung chi tiết các giai đoạn, đối tƣợng và chủ thể làm marketing địa phƣơng. Phân tích cụ thể về yếu tố sự ảnh hƣởng của môi trƣờng tới quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp, Phạm Công Toàn đã trình bày cụ thể các yếu tố: (1) thị trƣờng, (2) chi phí, (3) các nguồn tài nguyên thiên nhiên, (4) cơ sở hạ tầng, (5) khuôn khổ chính sách, (6) thúc đẩy và hỗ trợ kinh doanh. Nguyễn Thị Tƣờng Anh và Nguyễn Hữu Tâm (2013), “Nghiên cứu định lƣợng về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại các tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.
Nghiên cứu đã chỉ ra những đặc thù cơ bản nhất của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Việt Nam giai đoạn từ 2000 đến nay. Lƣợng vốn FDI tăng mạnh so với các nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực, tuy nhiên điều đáng lo ngại là nguồn vốn này lại tập trung quá nhiều vào lĩnh vực bất động sản. Nghiên cứu chỉ ra những thay đổi rõ rệt trong chuyển dịch xu hƣớng đầu tƣ từ khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng tới khu vực Duyên hải Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian gần đây. Nhận ra xu hƣớng này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các vùng phát huy thế mạnh của mình, cải thiện điểm yếu và có những kế hoạch lâu dài, tổng thể.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những lĩnh vực nào, địa phƣơng nào đang thu hút dòng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài chứ chƣa đƣa ra những giải pháp để thu hút vốn cho từng địa phƣơng cụ thể. Hà Nam Khánh Giao, Lê Quang Huy, Hà Kim Hồng, Huỳnh Diệp Trâm Anh (2015) với đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu hút vốn đầu tƣ vào tỉnh Cà Mau”. Nghiên cứu nhằm khám phá các nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tƣ vào tỉnh Cà Mau, tác động đến việc cho Cà Mau là điểm đầu tƣ của các nhà đầu tƣ. Các tác giả đã chỉ ra những nhóm nhân tố chính tác động tới quyết định này bao gồm: Nhân tố kinh tế, nhân tố tài nguyên, nhân tố cơ sở hạ tầng và nhân tố chính sách.
8 z Nguyễn Thị Thu Hà (2016), nghiên cứu về sự hài lòng của nhà đầu tƣ vào tỉnh Bắc Ninh. Dựa vào mô hình phân tích khám phá (EFA) để phân tích, theo tác giả có 8 nhân tố ảnh hƣởng đến thu hút nhà đầu tƣ vào tỉnh Bắc Ninh, gồm: (1) Cơ sở hạ tầng; (2) Chính sách đầu tƣ; (3) Môi trƣờng sống; (4) Lợi thế đầu tƣ; (5) Chất lƣợng dịch vụ công; (6) Thƣơng hiệu địa phƣơng (7) Nguồn nhân lực và (8) Cạnh tranh chi phí đầu vào. Nhìn chung, các đề tài đều đánh giá cao vai trò của doanh nghiệp và công tác thu hút vốn đầu tƣ của doanh nghiệp là hƣớng đi đúng đắn và cần thiết. Mỗi đề tài đều đề cập đến một vấn đề, một lĩnh vực, một địa phƣơng khác nhau.
Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hƣởng của địa phƣơng đến quyết định đầu tƣ trong lĩnh vực du lịch Nghiên cứu “The role of Government in the development of tourism in Kenya” của John S. Akama (2002) nghiên cứu trƣờng hợp của Kenya để phân tích vai trò của chính phủ trong việc phát triển du lịch. Theo bản chất, việc phát triển và cung cấp sản phẩm du lịch bởi các bên liên quan với những hoạt động đa dạng. Trong tình hình kinh tế xã hội phát triển, thông thƣờng, chính quyền sẽ có năng lực xã hội, chính trị cần thiết và hợp pháp để tập hợp, phối hợp các hoạt động của các nhóm, đơn vị kinh tế với những lợi ích khác nhau có liên quan đến phát triển du lịch và thiết lập khuôn khổ cho môi trƣờng đó.
Cameron và cộng sự (2001), “Evolving role of local government in promoting sustainable tourism development on the West Coast”, đã chỉ ra 02 nhóm yếu tố chủ yếu tác động đến đầu tƣ du lịch thông qua ảnh hƣởng của chính quyền địa phƣơng đó là: Thúc đẩy hoạt động du lịch: - Hỗ trợ các sáng kiến phát triển kinh tế; - Thúc đẩy đầu tƣ phát triển khu và điểm du lịch; - Thúc đẩy các hoạt động, sự kiện. Chức năng quản lý các hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trƣờng: - Thiết lập quy trình, chính sách; - Lập kế hoạch, thiết lập hệ thống cơ sở vật chất; Theo dõi các xu hƣớng và kiểm soát môi trƣờng. 9 z Theo Cristina Estevao và cộng sự (2015), đã kh ng định; khả năng cạnh tranh của những địa điểm du lịch chính là yếu tố cần đƣợc xác định và đánh giá làm yếu tố cơ sở ảnh hƣởng đến quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp.