chương 1, trình bày sơ lược nội dung chính của 5 chương trong bài nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày về khung lí thuyết của đề tài. Lược khảo các tài liệu nghiên cứu trước kia có liên quan đến đề tài qua đó đưa ra các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài. KHUNG LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 2.
Định nghĩa Thẻ thanh toán ngân hàng là một loại thẻ được phát hành bởi các ngân hàng hoặc một số công ty tài chính, để thực hiện các giao dịch theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Đây là công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng khi thanh toán mua sắm hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt tại ngân hàng hoặc tại các máy rút tiền tự động (Bank). Trong nghiên cứu này thẻ thanh toán được hiểu là có chức năng tương tự thẻ thanh toán ghi nợ, sử dụng để rút tiền mặt từ tài khoản cá nhân thông qua ATM trong phạm vi số tiền có trong tài khoản. Ngoài ra, bạn còn thể sử dụng thẻ thanh toán ATM để chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, kiểm tra tài khoản, mua thẻ thanh toán từ máy rút tiền tự động ATM.
Thẻ thanh toán ATM dùng để chi tiêu trong nước thông qua tổ chức chuyển mạch thẻ thanh toán nội địa. Trong góc nhìn thẻ thanh toán hiện đại còn có sự gắn kết thêm các dịch vụ tất yếu đi kèm với thẻ thanh toán như tài khoản thanh toán, dịch vụ mobile banking, internet banking…. (Bank, 2020) Thẻ thanh toán là thẻ do ngân hàng phát hành, dùng để thanh toán quẹt thẻ hoặc thanh toán online. Nó là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ thay thế tiền mặt.
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt, chuyển khoản hoặc kiểm tra số dư tài khoản khi cần thiết. Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. (Vũ, 2020) Trước đây, mọi giao dịch đều sử dụng tiền mặt cho dù trong nước hay quốc tế.
Với sự phát triển của công nghệ và việc áp dụng giải pháp ngân hàng cốt lõi (Core Banking Solutions – CBS) của các ngân hàng, đã tạo ra sự thay đổi lớn trong các thức tương tác giữa ngân hàng và khách hàng của họ. ATM là viết tắt của Automated Teller Machine. 6 Tương tự, thẻ thanh toán ATM là loại thẻ thanh toán dựa trên mã PIN do ngân hàng cấp cho chủ tài khoản để chủ tài khoản sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau tại máy ATM. Ngoài việc sử dụng tại các máy ATM, chủ tài khoản có thể sử dụng để mua hàng bằng cách nhập Mã số nhận dạng cá nhân (PIN).
Thẻ thanh toán ATM nói chung là thẻ thanh toán ghi nợ (Anjaneyulu, 2021). Chiếc thẻ thanh toán ngân hàng đầu tiên xuất hiện từ năm 1946 với cái tên “Charg-It” do John Biggins ở Brooklyn New York nghĩ ra. Năm 1966, chiếc thẻ thanh toán ghi nợ debit đầu tiên xuất hiện trên thị trường Mỹ do Ngân hàng Delaware phát hành. Năm 1970, nhiều ngân hàng có ý tưởng tương tự.
Đến nay, chiếc thẻ thanh toán này đã được lưu hành rộng rãi. Tại Việt Nam, chiếc thẻ thanh toán ATM đầu tiên được Vietcombank phát hành năm 1993, với mục đích triển khai dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Đến năm 2002, chiếc thẻ thanh toán ghi nợ nội địa mới được chính thức ra mắt trên thị trường Việt Nam (Đạt, 2019) 2. Thẻ thanh toán ngân hàng a.
Ưu điểm Rút tiền: Đây là tính năng cơ bản của thẻ thanh toán, giúp chủ thẻ thanh toán không cần mang tiền mặt, chỉ cần mang theo một chiếc thẻ thanh toán thì có thể rút ở bất kỳ cây ATM gần nhất, với mức phí tuỳ ngân hàng. Khách hàng chỉ cần ấn thẻ thanh toán, bấm mật khẩu và chọn số tiền muốn rút. Thời gian rút trong khoảng vài phút. Thanh toán dịch vụ: Đây là dịch vụ góp phần giúp cuộc sống phát triển tốt hơn.Với dịch vụ giải trí, khách hàng dễ dàng chi trả với thẻ thanh toán ATM, các nhà hàng, khu vui chơi cũng khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt với nhiều ưu đãi.
Thanh toán hóa đơn: các ngân hàng đã mở rộng liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp cung ứng các dịch vụ sinh hoạt thiết yếu như các điện thoại, Internet, điện lực, nước, truyền hình… cho phép khách hàng có thể thanh toán các loại hóa đơn sinh hoạt này thông qua tài khoản ngân hàng một cách chủ động và thuận tiện; nạp thẻ thanh toán cào điện thoại, thẻ thanh toán game online, trả phí tham gia diễn đàn: khi sở hữu VĐT người dùng Internet cũng có thể sử dụng tiền trong tài khoản để chi trả những khoản phí nhỏ cho các dịch vụ nội dung số trên Internet dễ dàng, nhanh chóng với giá trị giá cả thấp hơn so với các phương thức khác. Mua vé điện tử: với sự gia tăng của nhu cầu mua vé điện tử như vé máy bay, vé tàu, vé xe, vé xem phim, ca nhạc… các ngân hàng đã mở rộng thêm chức năng mua vé điện tử 7 nhằm đáp ứng nhu cầu và gia tăng tiện ích cho người dùng thẻ thanh toán; thanh toán học phí: khi sử dụng thẻ thanh toán người dùng có thể thanh toán học phí cho các khóa học online, đào tạo từ xa… một cách dễ dàng và tiện lợi; thanh toán đặt phòng: hiện nay một số ngân hàng tại Việt Nam đã liên kết với các trang đặt phòng khách sạn để tích hợp chức năng thanh toán tiền đặt phòng trực tuyến cho khách hàng có tài khoản ; mua bảo hiểm ôtô – xe máy. Chuyển khoản: Ngoài thanh toán và rút tiền, thẻ thanh toán ATM còn có chức năng chuyển khoản theo yêu cầu, tuỳ theo liên ngân hàng hay ngân hàng khác mà có biểu phí khách nhau. Dịch vụ này cung cấp nhiều tiện ích, an toàn và tiện lợi.
An toàn và sinh lời: Ngoài những chức năng tiêu biểu trên thì thẻ thanh toán ATM rất an toàn cho túi tiền khách hàng vì chỉ khách hàng mới biết mật khẩu của thẻ thanh toán. Nếu mất thẻ thanh toán thì cũng không mất tiền vì không biết mật khẩu. Ngoài ra, không giữ quá nhiều tiền mặt bên mình giúp khách hàng tránh được nhiều rủi ro. Mọi chi tiêu của chủ thẻ thanh toán đều sẽ được thông báo ngay sau khi thanh toán nên việc quản lý chi tiêu sẽ dễ dàng hơn.
Ngoài ra, thẻ thanh toán ATM còn được tính lãi suất tuỳ ngân hàng, thông thường là 0,2 – 0,3%., 2020) Ngoài ra, từ 01/01/2008 doanh nghiệp đã bắt đầu trả lương cho nhân viên qua tài khoản cá nhân. Việc này giúp xã hội thay đổi nhận thức về việc chi tiêu không dùng tiền mặt, tăng tính minh bạch và an toàn xã hội cho người dân (Hải, 2021). So với việc trả lương bằng tiền mặt thì việc thanh toán qua thẻ thanh toán có nhiều lợi ích đối với doanh nghiệp lẫn nhân viên như là tiết kiệm được thời gian và chi phí, không cần phải phát lương, do đó giảm được bộ máy phát lương, góp phần tiết kiệm ngân sách. Phát lương qua thẻ thanh toán giúp họ có thể cân bằng chi tiêu và bảo mật về tiền lương và các khoản thưởng, việc này tránh được việc cạnh tranh nội bộ.
Đối với ngân hàng thương mại thì việc ATM xuất hiện giúp các dịch vụ tài chính trở nên đa dạng. Các ngân hàng hiện nay đang đua nhau phát triển dịch vụ thẻ thanh toán, trang bị và nâng cao chất lượng tự động hoá trong giao dịch, đây là bước tiến cần thiết đối với một nước đang phát triển như Việt Nam (Tuấn, 2016). Hội thẻ thanh toán ngân hàng VN cho biết theo thống kê mới nhất, số lượng thẻ thanh toán ngân hàng đang lưu hành toàn thị trường đạt con số 103 triệu thẻ thanh toán. Đáng lưu ý, thẻ thanh toán nội địa vẫn chiếm số lượng áp đảo với 88,3 triệu thẻ thanh toán, còn thẻ 8 thanh toán quốc tế là hơn 14,8 triệu thẻ thanh toán.
Các số liệu thống kê thẻ thanh toán gần đây cũng loại ra các thẻ thanh toán "rác" - là những được phát hành nhưng không được sử dụng. Ngoài ra, theo Hội thẻ thanh toán ngân hàng Việt Nam, đang có xu hướng chủ thẻ ghi nợ nội địa chi tiêu thường xuyên chuyển dịch sang thẻ quốc tế để mở rộng phạm vi chi tiêu. Do vậy tăng trưởng thẻ thanh toán ghi nợ quốc tế tăng đến 24% trong nửa đầu năm trong với các loại thẻ thanh toán khác khi số lượng thẻ phát hành mới đều ghi nhận tăng trưởng âm so với cùng kỳ.Về doanh số thanh toán, Hội thẻ thanh toán ngân hàng cho biết, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, tốc độ tăng trưởng doanh số giao dịch thẻ toàn thị trường nửa đầu năm 2020 giảm xuống 9% (Hồng, 2020). Tổng số lượng thẻ thanh toán đang lưu hành và số lượng tài khoản thẻ thanh toán tại các ngân hàng vẫn có xu hướng tăng trưởng trong các năm trở lại đây, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đang chậm lại.
Theo số liệu của Hội thẻ thanh toán ngân hàng Việt Nam, tổng số lượng thẻ thanh toán đang lưu hành đến ngày 31/12/2019 là gần 103 triệu thẻ thanh toán, trong đó có 91,3 triệu thẻ thanh toán ghi nợ (88,7%), 6,7 triệu thẻ thanh toán trả trước (6,5%), và 4,9 triệu thẻ thanh toán tín dụng (4,7%). Dẫn đầu về thị phần thẻ thanh toán vẫn là các ngân hàng quốc doanh. Một số ngân hàng đang ngân hàng đang tập trung đẩy mạnh phát hành mới như Agribank, Techcombank, ACB, VPBank, MSB và TPBank. Hiệu quả về doanh số sử dụng thẻ thanh toán (so với số lượng phát hành) đang nghiêng về các ngân hàng có định hướng bán lẻ như Vietcombank, ACB, VIB và TPBank.
Bên cạnh đó, xu hướng khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt cũng tạo ra xu hướng tăng trưởng giao dịch thanh toán nội địa qua các kênh thẻ thanh toán, chuyển khoản và nhờ thu cả về số lượng và giá trị giao dịch.Đây sẽ là động lực tăng trưởng cho phí thanh toán và phí thẻ thanh toán vẫn, vốn là hai nguồn đóng góp truyền thống vào phí dịch vụ của các ngân hang (Thuỷ T. Nhược điểm Ngoài những ưu điểm được kể trên thì thẻ thanh toán vẫn tồn tại một số hạn chế.