Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh doanh (mã số 9 34 01 01) của nghiên cứu sinh N H H Linh, thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2023, mang tiêu đề: "Các nhân tố tác động đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của các doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng". Công trình được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn thứ nhất là N N ơ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Năng suất là yếu tố then chốt cho sự phát triển của mỗi quốc gia, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP) phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng các nhân tố hữu hình (vốn và lao động) nhờ vào tác động của các nhân tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý và nâng cao trình độ người lao động. Ở cấp độ vĩ mô, TFP là động lực chính của tăng trưởng dài hạn; ở cấp độ vi mô, TFP là thước đo hiệu quả sử dụng tổng đầu vào để tạo ra đầu ra, làm căn cứ mở rộng sản xuất và bảo đảm chất lượng tăng trưởng theo chiều sâu.
Tại Việt Nam, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp đang có xu hướng chậm lại, từ mức trung bình 10,7%/năm giai đoạn 2006-2010 giảm xuống 7,4%/năm giai đoạn 2011-2015; tốc độ tăng năng suất lao động ngành công nghiệp giai đoạn 2006-2015 chỉ đạt khoảng 2,4%/năm, chậm hơn mức tăng bình quân chung của nền kinh tế là 3,9% (Đặng Thị Loan, 2017).
Vùng đồng bằng sông Hồng là địa bàn trọng yếu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Vùng có 11 tỉnh, thành phố, hình thành tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, với 7 địa phương nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Vùng thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đứng thứ hai cả nước, chiếm 31,4% tổng vốn FDI của Việt Nam trong 35 năm qua, thu hút các tập đoàn lớn như Samsung, LG, Honda, Canon, Foxconn, Toyota (Nguyên Đức, 2021). Giai đoạn 2015-2020, kinh tế vùng tăng trưởng bình quân 7,9%/năm; quy mô kinh tế năm 2020 đạt 2,37 triệu tỷ đồng (chiếm 29,4% GDP cả nước); GRDP bình quân đầu người đạt 103,6 triệu đồng/người/năm, gấp 1,3 lần bình quân cả nước (Bộ Công Thương Việt Nam, 2022). Tỷ lệ đóng góp của khoa học và công nghệ thông qua chỉ số TFP vào tăng trưởng kinh tế vùng giai đoạn 2015-2020 đạt 48,1% (Thái Bình, 2021).
Mặc dù vậy, công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng đối mặt với nhiều khó khăn: bên cạnh các doanh nghiệp hiện đại, còn nhiều cơ sở sản xuất đã tồn tại trên dưới 20 năm với công nghệ lạc hậu; phần lớn cơ sở có quy mô nhỏ, khả năng đổi mới công nghệ hạn chế; tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng tiềm năng, không đồng đều giữa các địa phương; chất lượng tăng trưởng còn phụ thuộc nhiều vào vốn và lao động; chuyển dịch cơ cấu chậm, sản phẩm chủ yếu ở phân khúc thấp trong chuỗi giá trị.
Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14/9/2005 của Bộ Chính trị khóa IX và Quy hoạch phát triển công nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 của Bộ Công Thương (năm 2016) đặt mục tiêu xây dựng vùng thành trung tâm sản xuất công nghiệp, công nghệ hiện đại, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm công nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt 8,5-9,0%; giai đoạn 2021-2025 đạt 8,0-8,5%; giai đoạn 2026-2035 đạt 7,0-7,5%. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt 14,0-14,5%; giai đoạn 2021-2025 đạt 15,0-15,5%; giai đoạn 2026-2035 đạt 13,0-13,5%. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng đạt 48,8% (năm 2020), 49,6% (năm 2025) và 48,0% (năm 2035). Do đó, việc nghiên cứu xác định các nhân tố tác động đến TFP của các doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận án là xác định các nhân tố tác động đến TFP của doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, từ đó đưa ra các hàm ý quản trị cho các nhà quản trị doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách nhằm đề ra giải pháp cụ thể tăng TFP.
Năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về TFP và làm rõ thêm các nhân tố tác động đến TFP của doanh nghiệp.
- Hệ thống hóa các phương pháp dùng để đo lường năng suất các nhân tố tổng hợp TFP và lựa chọn ra phương pháp đo lường phù hợp nhất với luận án.
- Đưa ra bức tranh tổng quan về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng.
- Xác định các yếu tố tác động đến tăng trưởng TFP của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp tại đồng bằng sông Hồng.
- Đề xuất các giải pháp, hàm ý quản trị nhằm tăng TFP cho doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: TFP và các nhân tố tác động đến TFP của các doanh nghiệp công nghiệp hoạt động tại vùng đồng bằng sông Hồng.
- Phạm vi nội dung: Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến TFP và các nhân tố ảnh hưởng đến TFP tại các doanh nghiệp công nghiệp.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp công nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng đồng bằng sông Hồng.
- Phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2006-2020 (xác định dựa trên độ trễ công bố số liệu thống kê chính thức).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước được luận án điểm lại
Luận án tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh khái niệm TFP, tầm quan trọng của TFP và các nhân tố tác động đến TFP:
-
Khái niệm và bản chất của TFP:
- Khái niệm TFP khởi nguồn từ Tinbergen (1942) và Stigler (1947). Khung tiếp cận thực nghiệm chính được Solow (1957) thiết lập, định nghĩa TFP là phần thặng dư còn lại do đổi mới, cải tiến công nghệ và tổ chức mà không thể giải thích bằng thay đổi của các yếu tố đầu vào.
- Ba quan điểm chính trong nghiên cứu thực nghiệm: Barro (1999) và Griliches (1987) coi TFP phản ánh sự dịch chuyển hàm sản xuất từ tiến bộ công nghệ; Balk (2003) cho rằng TFP phản ánh sự cải thiện hiệu quả phân bổ đầu vào hợp lý mà không nhất thiết cần cải tiến công nghệ; Jorgenson và Griliches (1967) tiếp cận TFP từ hiệu quả kinh tế theo quy mô và thay đổi thành phần hỗn hợp đầu vào, đầu ra.
- Nishimizu và Page (1982) phân tách biến động TFP thành thay đổi công nghệ (dịch chuyển hàm sản xuất biên) và thay đổi hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency). Kendrick (1956) và Stigler (1947) phân biệt TFP với năng suất bộ phận (partial productivity), khẳng định việc chỉ đo lường từng yếu tố đơn lẻ (như năng suất lao động) dễ dẫn tới đánh giá sai lệch hiệu quả kinh tế.
- Về vai trò của TFP: Krugman (1997), Wolff (2014), Beckman và Buzzell (1958) phân tích tác động của TFP tới mức sống, tiền lương, giá cả tiêu dùng và phúc lợi xã hội dài hạn.
-
Các nhân tố tác động đến TFP:
- Yếu tố công nghệ: Romer (1986, 1990) nhấn mạnh vai trò tích lũy tri thức; Chen và Dahlman (2004) chỉ ra tác động của công nghệ thông tin - truyền thông; Calligaris và cộng sự nhấn mạnh tài sản vô hình (R&D, thương hiệu); Crass và Peters (2014) dùng dữ liệu mảng doanh nghiệp Đức chứng minh vai trò của R&D và chi phí đào tạo lao động; Norris và cộng sự (2010), Castany và cộng sự (2005) phân tích quy mô doanh nghiệp hạn chế hiệu quả R&D tại Tây Ban Nha.
- Tuổi của doanh nghiệp: Luận án phân tích hai luồng tác động trái chiều: "hiệu ứng sinh tồn" (survival effect) dựa trên cơ chế "vừa học vừa làm" của Arrow (1962), Jensen và cộng sự (2001) và Majumdar (1997 tại Ấn Độ); đối lập với "hiệu ứng cổ điển" (vintage effect) và "hiệu ứng trì trệ" (inertia effect) của Marshall (1890), Hannan và Freeman (1984), Coad và cộng sự (2013 tại Tây Ban Nha), Fernandes (2008), khi doanh nghiệp lâu năm chậm đổi mới công nghệ và khó thích nghi môi trường.
- Vị trí đặt công ty: Pan và Zhang (2002) nghiên cứu 8.273 công ty tại Trung Quốc, chỉ ra quy mô thành phố và sự tập trung của các công ty cùng ngành làm tăng năng suất doanh nghiệp thêm 0,086%.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Harris (2002), Harris và Robinson (2003) nghiên cứu ngành sản xuất tại Anh; Zhou và cộng sự (2002) phân tích 56.000 công ty Trung Quốc bằng OLS; Crespo và Fontoura (2007) hệ thống 5 kênh lan tỏa (mô phỏng, di chuyển lao động, xuất khẩu, cạnh tranh, liên kết dọc). Girma và Wakelin (2007 tại Anh), Suyanto và cộng sự (2009 tại Indonesia), Ben Hamida và Gugler (2009 tại Thụy Sĩ), Todo và cộng sự (2011 tại Trung Quốc), Yu và Sheng (2012 tại Trung Quốc) kiểm định tác động lan tỏa ngang, lan tỏa dọc và vai trò năng lực hấp thụ.
- Hoạt động xuất khẩu: Roberts và Tybout (1997) đưa ra giả thuyết "tự chọn" (self-selection) do chi phí chìm gia nhập thị trường tại Colombia; Bernard và Jensen (1999, 2004) kiểm định giả thuyết "học qua xuất khẩu" (learning-by-exporting) tại Hoa Kỳ; Ortega và cộng sự (2014) kiểm định 4 giả thuyết tại Chile.
- Khả năng quản lý: Ichniowski và cộng sự (1997) phân tích hệ thống quản trị nhân lực HRM trong ngành thép; Lazear (2000) nghiên cứu chuyển đổi phương thức trả lương theo sản phẩm tại công ty kính ô tô làm tăng 44% năng suất; Bloom và Van Reenen (2007) khảo sát 732 công ty tại 4 quốc gia (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Anh) đo lường 18 thực hành quản lý.
- Tài chính và cơ cấu vốn: Aghion và cộng sự (2007), Fazzari và cộng sự (1988), Báo cáo Ủy ban châu Âu (European Commission); Jensen (1986), Nickell và Nicolitsas (1999), Köke (2001) phân tích tác động của đòn bẩy nợ và áp lực tài chính đối với nỗ lực tăng năng suất.
- Tiền lương: Rycx và cộng sự (2013) nghiên cứu 7 nước EU giai đoạn 1995-2007, chỉ ra tiền lương trên mỗi công nhân phản ánh năng suất và là nhân tố chính tác động đến TFP.
- Các nghiên cứu đa biến tổng hợp: Yao và cộng sự (2007) dùng DEA-Malmquist và Tobit cho ngành bảo hiểm; Li và cộng sự (2012) dùng hàm translog và bán tham số Levinsohn-Petrin cho 647.987 doanh nghiệp Trung Quốc; Shen và Song (2013) dùng GMM Wooldridge cho ngành thép Trung Quốc giai đoạn 1998-2007; tại Việt Nam, Vũ Thị Thư Thư và Nguyễn Thị Vân Hà (2017) dùng OLS đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất lao động của doanh nghiệp tư nhân từ dữ liệu điều tra năm 2013.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Qua tổng quan tài liệu, tác giả xác định 3 khoảng trống nghiên cứu chính:
- Số lượng công trình nghiên cứu thực nghiệm lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến TFP tại cấp độ doanh nghiệp ở Việt Nam còn rất hạn chế.
- Các nghiên cứu hiện có tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào năng suất lao động bộ phận, hoặc chỉ nghiên cứu cho một ngành sản xuất cụ thể, một địa phương hẹp, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện các nhân tố tác động đến TFP cho toàn bộ ngành công nghiệp trên phạm vi vùng đồng bằng sông Hồng.
- Yêu cầu cấp bách từ thực tiễn khi tốc độ tăng trưởng công nghiệp vùng đang chậm lại, đặt ra nhu cầu kiểm định trên chuỗi dữ liệu mảng dài (2006-2020) với phương pháp định lượng khắc phục triệt để tính nội sinh và hiện tượng tác động cố định không quan sát được, cung cấp cơ sở hoạch định chính sách phục vụ Quy hoạch phát triển công nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2025, tầm nhìn 2035.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm năng suất: Theo OECD (2001) và Ủy ban Năng suất thuộc Hội đồng Năng suất chi nhánh châu Âu, năng suất biểu thị tỷ số giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào ($P = \text{Tổng đầu ra} / \text{Tổng đầu vào}$).
- Khái niệm TFP: Dựa trên Solow (1957), Trần Văn Thọ, và Trung tâm Năng suất Việt Nam, TFP phản ánh phần đóng góp của các yếu tố vô hình (công nghệ, kỹ năng, quản lý, cơ cấu vốn) vào sự gia tăng sản lượng, đo lường phần thặng dư không giải thích được bằng mức gia tăng của vốn và lao động.
- Khung phân tích hàm sản xuất: Sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas dạng tuyến tính hóa logarit tự nhiên (Coelli và cộng sự, 2005): $$\ln Q_{it} = A_{it} + (1 - \alpha) \ln K_{it} + \alpha \ln L_{it}$$ Trong đó: $Q_{it}$ là đầu ra của doanh nghiệp $i$ tại thời điểm $t$ (đo bằng giá trị gia tăng); $K_{it}$ là đầu vào vốn; $L_{it}$ là đầu vào lao động; $\alpha$ và $1-\alpha$ là hệ số đóng góp tương ứng; phần dư $A_{it}$ chính là chỉ số TFP.
- Khái niệm doanh nghiệp công nghiệp: Căn cứ khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, là đơn vị cơ sở thực hiện chức năng khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến sản phẩm, sản xuất sản phẩm công nghiệp cung cấp cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng xã hội.
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Luận án kết hợp đồng thời phương pháp định tính và định lượng:
| Phương pháp | Kỹ thuật cụ thể | Mục đích sử dụng trong luận án |
|---|---|---|
| Định tính | Thu thập dữ liệu thứ cấp | Tổng hợp dữ liệu từ Niên giám thống kê và Tổng điều tra doanh nghiệp hàng năm (2006-2020), văn bản quy hoạch, đề tài, tạp chí. |
| Phân tích - tổng hợp | Hệ thống hóa lý luận về TFP và các nhân tố ảnh hưởng tại Chương 1 và Chương 2. | |
| Thống kê mô tả | Phác thảo hiện trạng doanh nghiệp, lao động, năng suất lao động và TFP công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng tại Chương 4. | |
| So sánh | Đối chiếu kết quả giữa các tác giả, so sánh mức độ phát triển giữa đồng bằng sông Hồng với các vùng khác, so sánh giữa các kỹ thuật ước lượng. | |
| Định lượng | Ước lượng hàm sản xuất và TFP | So sánh giữa OLS, Fixed Effects (FE), Instrumental Variables (IV), Olley & Pakes (1996), Levinsohn & Petrin (2003) và System GMM (SYS-GMM). |
| Hồi quy System GMM (SYS-GMM hai bước) | Sử dụng SYS-GMM hai bước (Blundell và Bond, 1998) để ước lượng hàm sản xuất và xác định mức độ tác động của các biến giải thích lên TFP. |
Cơ sở lựa chọn phương pháp ước lượng SYS-GMM
Luận án đánh giá và loại bỏ các kỹ thuật ước lượng khác vì những lý do sau:
- Phương pháp OLS và Tác động cố định (FE): Không giải quyết được hiện tượng nội sinh phát sinh do tính đồng thời giữa quyết định chọn đầu vào của doanh nghiệp và cú sốc năng suất không quan sát được.
- Phương pháp bán tham số Olley & Pakes (1996) và Levinsohn & Petrin (2003): Mặc dù dùng đầu tư hoặc chi phí trung gian để kiểm soát cú sốc năng suất, nhưng không cho phép xem xét các tác động cố định bất biến theo thời gian của từng doanh nghiệp, đồng thời dựa trên các giả định chặt chẽ, tạo ra hiện tượng đa cộng tuyến trong giai đoạn ước lượng đầu tiên (Ackerberg và cộng sự, 2015).
- Phương pháp SYS-GMM hai bước (Blundell và Bond, 1998): Luận án lựa chọn phương pháp này vì cho phép kiểm soát tác động cố định không quan sát được của doanh nghiệp; giải quyết triệt để vấn đề nội sinh của các biến độc lập và biến phụ thuộc trễ cũng như sai lệch lựa chọn (selection bias) bằng cách sử dụng giá trị trễ của biến nội sinh làm biến công cụ trong phương trình sai phân bậc một (first differences equation) và sai phân bậc một của các biến trễ làm biến công cụ trong phương trình mức (levels equation). Kết quả mô phỏng Monte Carlo của Van Biesebroeck (2007) cũng khẳng định GMM là kỹ thuật vững nhất (robust technique) khi tồn tại sai số đo lường và tính không đồng nhất về công nghệ.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Bộ số liệu Niên giám thống kê Việt Nam và số liệu Tổng điều tra doanh nghiệp hàng năm giai đoạn 2006-2020 do Tổng cục Thống kê ban hành.
- Dữ liệu văn bản quản lý nhà nước: Nghị quyết số 54-NQ/TW của Bộ Chính trị; Quyết định và số liệu của Bộ Công Thương về Quy hoạch phát triển công nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2025, tầm nhìn 2035; Báo cáo chỉ tiêu năng suất Việt Nam của Trung tâm Năng suất Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về khái niệm TFP (Tinbergen, 1942; Solow, 1957; Barro, 1999; Balk, 2003); tầm quan trọng của TFP đối với nền kinh tế và doanh nghiệp (Krugman, 1997; Wolff, 2014); các nhân tố tác động đến TFP bao gồm công nghệ (Romer, 1986; Crass và Peters, 2014), tuổi doanh nghiệp (Jensen và cộng sự, 2001; Majumdar, 1997), vị trí đặt công ty (Pan và Zhang, 2002), vốn đầu tư nước ngoài FDI (Harris và Robinson, 2003; Crespo và Fontoura, 2007), hoạt động xuất khẩu (Roberts và Tybout, 1997; Bernard và Jensen, 1999), khả năng quản lý (Bloom và Van Reenen, 2007), tiền lương (Rycx và cộng sự, 2013) và các nghiên cứu đa biến (Yao và cộng sự, 2007; Li và cộng sự, 2012; Shen và Song, 2013; Vũ Thị Thư Thư và Nguyễn Thị Vân Hà, 2017). Chương 1 chỉ ra 3 khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở xác định hướng tiếp cận của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận về năng suất nhân tố tổng hợp và các nhân tố tác động đến năng suất nhân tố tổng hợp
Chương 2 làm rõ các khái niệm cơ bản: khái niệm năng suất theo tiếp cận truyền thống và hiện đại; khái niệm TFP và khung phân tích hàm sản xuất Cobb-Douglas; khái niệm và vai trò của doanh nghiệp công nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2020. Chương này phân tích chi tiết cơ chế tác động lý thuyết của các nhân tố: yếu tố công nghệ, tuổi doanh nghiệp (cơ chế giằng co giữa hiệu ứng sinh tồn và hiệu ứng cổ điển/trì trệ), vị trí đặt công ty, đầu tư trực tiếp nước ngoài (các kênh lan tỏa trực tiếp và gián tiếp), hoạt động xuất khẩu (cơ chế tự chọn và học qua xuất khẩu), khả năng quản lý của doanh nghiệp và các yếu tố tài chính, tiền lương.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phương pháp phân tích định tính và định lượng; so sánh chi tiết các kỹ thuật ước lượng hàm sản xuất (OLS, FE, IV, GMM, SYS-GMM, Olley - Pakes, Levinsohn - Petrin); lập luận lựa chọn phương pháp hồi quy System GMM (SYS-GMM hai bước) giải quyết vấn đề nội sinh; xác định các biến đưa vào mô hình thực nghiệm và mô tả thống kê các biến (Bảng 3.1); xây dựng các giả thuyết nghiên cứu thực nghiệm.
Chương 4: Đánh giá các nhân tố tác động đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của các doanh nghiệp công nghiệp tại đồng bằng sông Hồng
Chương 4 phân tích thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2010-2020 (số lượng doanh nghiệp, quy mô lao động, năng suất lao động theo doanh thu và giá trị gia tăng); tính toán và so sánh chỉ số TFP giữa các vùng kinh tế và giữa các ngành công nghiệp.
Chương 4 trình bày hệ thống bảng biểu thống kê và kết quả ước lượng thực nghiệm được tổng hợp trong luận án:
| Ký hiệu bảng | Tên bảng số liệu trong văn bản luận án |
|---|---|
| Bảng 3.1 | Mô tả thống kê các biến sử dụng trong mô hình ước lượng TFP |
| Bảng 4.1 | Số lượng doanh nghiệp phân theo vùng kinh tế giai đoạn 2010-2020 |
| Bảng 4.2 | Tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp các vùng trong cả nước giai đoạn 2010-2020 |
| Bảng 4.3 | Tổng số doanh nghiệp công nghiệp toàn quốc giai đoạn 2010-2020 |
| Bảng 4.4 | Số lượng doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp giai đoạn 2010-2020 tại vùng đồng bằng Sông Hồng |
| Bảng 4.5 | Tỷ trọng số lượng doanh nghiệp các ngành trong ngành công nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2010-2020 |
| Bảng 4.6 | Tỷ trọng doanh nghiệp doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng phân theo quy mô (%) |
| Bảng 4.7 | Tổng số lao động trong doanh nghiệp theo vùng qua các năm |
| Bảng 4.8 | Số lao động theo ngành công nghiệp qua các năm ở đồng bằng Sông Hồng |
| Bảng 4.9 | Năng suất lao động trong doanh nghiệp theo ngành tính theo doanh thu |
| Bảng 4.10 | Năng suất lao động trong doanh nghiệp theo ngành tính theo giá trị gia tăng |
| Bảng 4.14 | Năng suất lao động các ngành công nghiệp ở đồng bằng Sông Hồng qua các năm |
| Bảng 4.15 | Năng suất lao động chung của doanh nghiệp qua các năm tính theo giá trị gia tăng |
| Bảng 4.16 | Năng suất lao động theo giá trị gia tăng của doanh nghiệp đồng bằng sông Hồng theo ngành công nghiệp |
| Bảng 4.17 | Năng suất lao động theo giá trị gia tăng nhóm ngành công nghiệp ở các vùng năm |
| Bảng 4.18 | TFP của doanh nghiệp phân theo vùng kinh tế giai đoạn 2011-2020 |
| Bảng 4.19 | TFP của doanh nghiệp ngành công nghiệp phân theo vùng kinh tế giai đoạn 2011-2020 |
| Bảng 4.20 | TFP của doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng |
| Bảng 4.21 | Kết quả ước lượng sử dụng phương pháp SYS-GMM hai bước đối với hàm sản xuất |
Kết quả ước lượng định lượng tại Bảng 4.21 xác định chiều hướng và mức độ tác động của các biến giải thích đến tăng trưởng TFP của doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng:
- Hoạt động xuất nhập khẩu: Tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng TFP.
- Tuổi của doanh nghiệp: Có hệ số tác động mang dấu âm (doanh nghiệp tồn tại càng lâu năm thì tăng trưởng TFP có xu hướng giảm), tuy nhiên hệ số tác động khá nhỏ và không có ý nghĩa về mặt thống kê.
- Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): Tác động tích cực đến tăng trưởng TFP.
- Mức lương trung bình thực tế hàng tháng của nhân viên: Tác động tích cực đến tăng trưởng TFP.
- Quy mô doanh nghiệp: Cả hai biến quy mô doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa đều tác động tích cực đến tăng trưởng TFP so với nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Chương 5: Hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cho các doanh nghiệp công nghiệp tại đồng bằng sông Hồng
Chương 5 phân tích bối cảnh môi trường kinh doanh vùng đồng bằng sông Hồng gắn với mục tiêu Quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm 2025, tầm nhìn 2035; từ kết quả hồi quy thực nghiệm, đề xuất 5 nhóm hàm ý quản trị cụ thể nhằm nâng cao TFP cho các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn vùng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án đã so sánh, đối chiếu có hệ thống các phương pháp ước lượng TFP chủ yếu trong kinh tế lượng vi mô, bao gồm: OLS, Fixed Effects (FE), biến công cụ (IV), GMM, SYS-GMM và các phương pháp bán tham số của Olley và Pakes (1996), Levinsohn và Petrin (2003).
- Luận án khẳng định phương pháp SYS-GMM hai bước (Blundell và Bond, 1998) là công cụ ước lượng phù hợp nhất để phân tích TFP cấp doanh nghiệp. Điểm vượt trội của SYS-GMM so với các phương pháp tiếp cận bán tham số là cho phép xem xét các tác động cố định không quan sát được của doanh nghiệp bất biến theo thời gian, đồng thời xử lý triệt để vấn đề nội sinh của các biến độc lập bị trễ và sai lệch lựa chọn (selection bias) thông qua hệ thống biến công cụ sai phân và biến công cụ mức. Luận án cũng chỉ ra các phương pháp bán tham số của Olley - Pakes và Levinsohn - Petrin dựa trên các giả định chặt chẽ và dễ gây ra hiện tượng đa cộng tuyến ở giai đoạn ước lượng đầu tiên (Ackerberg và cộng sự, 2015).
Đóng góp về mặt thực tiễn
-
Luận án xác định rõ ràng tác động thực nghiệm của các biến số lên TFP của doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2006-2020:
- Biến hoạt động xuất nhập khẩu có tác động tích cực đến tăng trưởng TFP.
- Biến tuổi doanh nghiệp có tác động tiêu cực đến tăng trưởng TFP nhưng hệ số tác động khá nhỏ và không có ý nghĩa thống kê.
- Biến chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) tác động tích cực đến TFP.
- Biến mức lương trung bình thực tế của nhân viên hàng tháng tác động tích cực đến TFP.
- Biến quy mô doanh nghiệp (cả doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn) tác động tích cực đến tăng trưởng TFP.
-
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp và hàm ý quản trị trực tiếp từ kết quả nghiên cứu:
- Thứ nhất: Các doanh nghiệp cần chủ động, tích cực tham gia hoạt động xuất khẩu nhằm tận dụng hiệu ứng học hỏi qua xuất khẩu và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
- Thứ hai: Cải thiện hơn nữa chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong quy trình sản xuất và quản lý.
- Thứ ba: Tăng mức lương trung bình thực tế cho nhân viên nhằm thúc đẩy động lực làm việc, giữ chân lao động có năng suất cao.
- Thứ tư: Tăng quy mô doanh nghiệp lên thành doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn để khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô.
- Thứ năm: Tích cực đổi mới công nghệ hiện đại, thường xuyên đổi mới chiến lược và cấu trúc tổ chức để theo kịp sự thay đổi của thị trường, khắc phục hiện tượng trì trệ của các cơ sở sản xuất lâu năm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Do độ trễ của việc công bố số liệu thống kê chính thức cấp quốc gia, chuỗi số liệu thứ cấp sử dụng trong luận án dừng lại ở năm 2020, chưa phản ánh các biến động mới của nền kinh tế giai đoạn sau năm 2020.
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp trên địa bàn vùng đồng bằng sông Hồng, chưa thực hiện so sánh định lượng chéo với các vùng kinh tế khác trên toàn bộ các biến số vi mô.
- Dữ liệu nghiên cứu hoàn toàn dựa trên dữ liệu thứ cấp của Tổng điều tra doanh nghiệp, do đó một số khía cạnh định tính về kỹ năng quản trị chuyên sâu của người đứng đầu (như bộ 18 chỉ tiêu thực hành quản lý của Bloom và Van Reenen) chưa được đo lường trực tiếp mà phải thông qua các biến đại diện gián tiếp.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng chuỗi số liệu cập nhật các năm tiếp theo để đánh giá tác động của các cú sốc kinh tế và chu kỳ phục hồi sau năm 2020 đến TFP doanh nghiệp công nghiệp.
- Mở rộng phân tích so sánh liên vùng giữa vùng đồng bằng sông Hồng với vùng Đông Nam Bộ hoặc đi sâu phân tích theo từng phân ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp 2.
- Kết hợp điều tra định lượng vi mô chuyên sâu về thực hành quản trị và chi tiêu cho hoạt động đổi mới sáng tạo (R&D) trực tiếp tại doanh nghiệp để kiểm định sâu hơn các kênh truyền dẫn năng suất.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
-
Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh:
- Tham khảo Chương 1 và Chương 2 để nắm bắt hệ thống lý thuyết về TFP, các trường phái đo lường năng suất (Solow, Barro, Balk, Jorgenson) và cơ chế tác động của FDI, xuất khẩu, quy mô, tuổi và quản trị đến TFP.
- Tham khảo Chương 3 để học hỏi quy trình xây dựng mô hình kinh tế lượng mảng vi mô, kỹ thuật so sánh giữa các phương pháp OLS, FE, Olley - Pakes, Levinsohn - Petrin và ứng dụng phương pháp ước lượng SYS-GMM hai bước để xử lý vấn đề nội sinh trong hàm sản xuất.
-
Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách:
- Hữu ích cho Bộ Công Thương, Sở Công Thương và Ủy ban nhân dân 11 tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng trong việc rà soát, đánh giá thực trạng năng suất công nghiệp địa phương.
- Cung cấp căn cứ thực chứng để triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp theo Nghị quyết 54-NQ/TW và Quy hoạch phát triển công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2025, tầm nhìn 2035, đặc biệt là các chính sách thúc đẩy xuất khẩu, phát triển hạ tầng CNTT (ICT) và hỗ trợ mở rộng quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ.
-
Nhà quản trị doanh nghiệp công nghiệp:
- Cung cấp định hướng thực tiễn trong việc cấu trúc lại chi phí tiền lương để tạo động lực cho lao động, đầu tư cho hạ tầng công nghệ số và chiến lược gia nhập thị trường xuất khẩu nhằm tối ưu hóa TFP.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng phương pháp kinh tế lượng nào để ước lượng TFP và tại sao phương pháp đó được đánh giá là tối ưu?
Luận án sử dụng phương pháp hồi quy System GMM (SYS-GMM hai bước của Blundell và Bond, 1998) đối với hàm sản xuất Cobb-Douglas dạng logarit. Phương pháp này được chọn vì cho phép kiểm soát các tác động cố định không quan sát được của doanh nghiệp bất biến theo thời gian, đồng thời giải quyết vấn đề nội sinh của các biến độc lập và sai lệch lựa chọn (selection bias) bằng cách kết hợp phương trình sai phân bậc một (dùng biến trễ mức làm công cụ) và phương trình mức (dùng biến trễ sai phân làm công cụ). Kỹ thuật này khắc phục được nhược điểm giả định cứng nhắc và hiện tượng đa cộng tuyến ở bước một của các phương pháp bán tham số Olley - Pakes (1996) và Levinsohn - Petrin (2003).
2. Nhân tố tuổi của doanh nghiệp tác động như thế nào đến tăng trưởng TFP của doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng?
Kết quả ước lượng mô hình thực nghiệm cho thấy biến tuổi của doanh nghiệp có hệ số mang dấu âm, tức doanh nghiệp tồn tại càng lâu năm thì tăng trưởng TFP có xu hướng giảm. Tuy nhiên, mức độ tác động của biến này là khá nhỏ và không có ý nghĩa về mặt thống kê. Điều này cho thấy sự giằng co giữa "hiệu ứng sinh tồn" (học qua thực hành) và "hiệu ứng cổ điển/trì trệ" (chậm thích nghi, công nghệ cũ), trong đó nguy cơ trì trệ của các cơ sở công nghiệp lâu năm là vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý.
3. Hoạt động xuất nhập khẩu có ảnh hưởng như thế nào đến TFP của doanh nghiệp theo kết quả nghiên cứu?
Biến hoạt động xuất nhập khẩu có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng TFP của các doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng. Kết quả này ủng hộ các giả thuyết thực nghiệm về việc tham gia thị trường quốc tế giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kỹ thuật, tiếp cận máy móc, quy trình tiên tiến và tối ưu hóa năng lực sản xuất thông qua áp lực cạnh tranh và học hỏi từ đối tác nước ngoài.
4. Dữ liệu nghiên cứu của luận án được thu thập từ nguồn nào và bao quát khoảng thời gian nào?
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ nguồn dữ liệu thứ cấp chính thức của Tổng cục Thống kê Việt Nam, gồm Niên giám thống kê và bộ số liệu Tổng điều tra doanh nghiệp hàng năm trong chuỗi thời gian 15 năm, từ năm 2006 đến năm 2020, áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng đồng bằng sông Hồng.
5. Luận án đề xuất những giải pháp quản trị trọng tâm nào để nâng cao TFP cho doanh nghiệp công nghiệp trong vùng?
Luận án đề xuất 5 giải pháp quản trị trọng tâm: (1) Chủ động và tích cực tham gia hoạt động xuất khẩu; (2) Nâng cao chỉ số sẵn sàng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông (ICT); (3) Tăng mức lương trung bình thực tế hàng tháng cho nhân viên; (4) Thúc đẩy tích tụ, mở rộng quy mô lên mức doanh nghiệp vừa và lớn; (5) Đổi mới công nghệ hiện đại, thường xuyên cơ cấu lại chiến lược để khắc phục sức ỳ tổ chức và theo kịp thị trường.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh N H H Linh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết và phương pháp đo lường năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), khẳng định tính ưu việt của phương pháp ước lượng SYS-GMM hai bước trong việc kiểm soát tính nội sinh và tác động cố định ở cấp độ doanh nghiệp. Thông qua chuỗi dữ liệu mảng giai đoạn 2006-2020 của các doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, công trình xác định hoạt động xuất khẩu, chỉ số ICT, mức lương thực tế và quy mô doanh nghiệp vừa và lớn là các nhân tố có tác động tích cực đến tăng trưởng TFP. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực chứng để các doanh nghiệp công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng hoàn thiện chiến lược quản trị và giúp các cơ quan quản lý ban hành chính sách cụ thể nhằm hiện thực hóa các mục tiêu Quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm 2025, tầm nhìn 2035.