Luận án tiến sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường và tác động cuả nó đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành dệt may tại việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường và tác động đến kết quả hoạt động doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

307
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về kế toán môi trường

Kế toán môi trường (kế toán môi trường) là một lĩnh vực đang ngày càng được chú trọng trong bối cảnh phát triển bền vững. Nó không chỉ giúp các doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về tác động của hoạt động sản xuất đến môi trường mà còn tạo ra cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc ra quyết định. Theo nghiên cứu, các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc áp dụng kế toán môi trường. Việc này không chỉ liên quan đến chi phí mà còn đến sự tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường. Các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, nhận thức của lãnh đạo và các bên liên quan đều có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện kế toán môi trường trong ngành dệt may.

1.1. Tác động của kế toán môi trường đến doanh nghiệp dệt may

Kế toán môi trường có tác động mạnh mẽ đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng kế toán môi trường không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí mà còn nâng cao hiệu quả kinh doanh. Các doanh nghiệp có thể tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu lãng phí và cải thiện hình ảnh thương hiệu thông qua việc công bố thông tin môi trường. Điều này không chỉ thu hút khách hàng mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh trong thị trường toàn cầu.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường

Nghiên cứu đã xác định được bảy nhân tố chính ảnh hưởng đến kế toán môi trường trong các doanh nghiệp dệt may. Đầu tiên là quy mô doanh nghiệp, nơi mà các doanh nghiệp lớn thường có khả năng đầu tư vào hệ thống kế toán môi trường tốt hơn. Thứ hai là các quy định pháp lý, khi mà sự tuân thủ các quy định này có thể tạo ra áp lực lớn đối với doanh nghiệp. Thứ ba là trình độ của nhân viên kế toán, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện kế toán môi trường. Các bên liên quan cũng đóng vai trò quan trọng, khi mà sự quan tâm của họ đến vấn đề môi trường có thể thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện kế toán môi trường một cách hiệu quả hơn.

2.1. Chính sách môi trường và quản lý môi trường

Chính sách môi trường của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện kế toán môi trường. Doanh nghiệp cần có các chính sách rõ ràng và cụ thể để hướng dẫn các hoạt động liên quan đến bảo vệ môi trường. Việc quản lý môi trường hiệu quả không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy định mà còn tạo ra giá trị bền vững cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp dệt may cần xây dựng các chiến lược kinh doanh bền vững, trong đó kế toán môi trường đóng vai trò trung tâm.

III. Tác động của kế toán môi trường đến kết quả hoạt động

Kế toán môi trường có tác động tích cực đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may. Nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp áp dụng kế toán môi trường thường có doanh thu cao hơn và chi phí thấp hơn. Việc công bố thông tin môi trường cũng giúp doanh nghiệp xây dựng lòng tin với khách hàng và các bên liên quan. Điều này không chỉ cải thiện hình ảnh thương hiệu mà còn tạo ra cơ hội hợp tác với các đối tác quốc tế. Hơn nữa, việc thực hiện kế toán môi trường còn giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro liên quan đến môi trường, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

3.1. Chi phí môi trường và lợi ích kinh tế

Chi phí môi trường là một yếu tố quan trọng trong kế toán môi trường. Doanh nghiệp cần tính toán chi phí này một cách chính xác để có thể đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý. Việc giảm thiểu chi phí môi trường không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn tạo ra lợi ích kinh tế lâu dài. Các doanh nghiệp dệt may cần chú trọng đến việc tối ưu hóa quy trình sản xuất và sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả để giảm thiểu chi phí môi trường.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NC Trong chương này, tác giả chủ yếu trình bày các NC có liên quan đến đề tài của tác giả theo dòng NC cụ thể. Điều này giúp cho tác giả tìm ra khoảng trống để định hướng cho NC của mình. Đối với các NC về các NTTĐ đến KTMT tác giả chỉ khảo lược qua các NC trước chưa phân loại theo từng NTTĐ nhưng cũng từ đây tác giả tìm ra các nhân tố có nhiều khả năng sẽ tác động đến KTMT sẽ trình bày ở chương 2. Tổng quan các NC trên thế giới Môi trường là một phần không thể tách rời trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống con người (Md.

Hafij Ullah và cộng sự, 2014). Các hoạt động của tổ chức, DN, con người đều có liên hệ một cách trực tiếp hay gián tiếp đến MT xung quanh. Từ những năm 1970 xã hội bắt đầu quan tâm về TĐMT do hoạt động của các DN, và KTMT cũng xuất hiện trong giai đoạn này do sự gia tăng nhận thức về MT cũng như mối quan tâm về phúc lợi xã hội và MT (Hecht, 2000). Song song đó, KTMT ngày càng được quan tâm bởi các nhà điều hành DN và những người ủng hộ MT như là một sự bổ sung cần thiết để cải thiện MT, ra quyết định trong khu vực tư nhân (James Boyd,1998), đánh giá các lợi ích của KTMT và đề ra các giá trị, các yếu tố quyết định đến việc thay đổi, nâng cao chất lượng TTKT, xác định các cải thiện về KTMT sẽ mang lại nhiều lợi ích về tài chính và môi trường.

KTMT gồm có 03 lĩnh vực cụ thể là: KTMT trong bối cảnh quốc gia đề cập đến kế toán nguồn TNTN, có thể dẫn đến số liệu thống kê về một quốc gia hoặc khu vực mức độ, chất lượng, và giá trị của nguồn TNTN, cả tái tạo cũng như không tái tạo. KTMT trong bối cảnh KTTC thường đề cập đến việc chuẩn bị BCTC cho bên ngoài bằng cách sử dụng nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận. KTMT như một khía cạnh của KTQT phục vụ nhà quản trị đề ra các quyết định đầu tư về chi phí, thiết kế SX sản phẩm, đánh giá hiệu quả, và cả một loạt các những quyết định kinh doanh tương lai (USEPA, 1995). Đến nay có nhiều NC về KTMT trên thế giới, tác giả đã tìm hiểu và thống kê theo các chủ đề NC như sau: luan an 9 - Các NC có liên quan đến KTMT: Những NC này cho thấy các DN có CBTTMT, KTMT hay không và mức độ công bố, hay có KTQTMT hay không, mức độ thực hiện KTQTMT.

- Các NC liên quan đến NTTĐ đến KTMT: Dòng NC về nguyên nhân, các NTTĐ đến công bố thông tin môi trường (CBTTMT), KTQTMT - Các NC liên quan đến MQH giữa KTMT với KQHĐ của DN bao gồm: (1) Các NC liên quan đến MQH giữa CBTT về KTMT với lợi ích, hiệu quả tài chính, MT của DN. (2) Những NC về việc tổ chức KTQTMT sẽ cũng cấp nhiều thông tin hữu ít qua đó khuyến khích việc tổ chức KTQTMT để đạt được nhiều lợi ích trong kinh doanh. Các NC có liên quan đến KTMT 1. Các NC liên quan đến công bố thông tin KTMT trong DN Sự phát triển kinh tế, SX công nghiệp thế giới đã gây ra những tác động tiêu cực cho MT, trong đó, các DN được xem là nguyên nhân chính của các vấn về MT và phải đối mặt áp lực rất lớn từ chính phủ, nhà đầu tư, các tổ chức tài chính, xã hội,….

Trong bối cảnh phát triển KT-XH một cách bền vững, để giảm những áp lực này, bên cạnh việc tối đa hóa giá trị cho cổ đông các DN đã tìm cách giảm tác động tiêu cực đến MT, tự nguyện báo cáo các hoạt động hoạt động MT của họ (Halil Emre Akbas1 và Seda Canikli, 2014). Thông tin KTMT được cung cấp trong BCHN hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác (Gray và cộng sự. Báo cáo kinh doanh thông qua việc tự nguyện báo cáo thêm thông tin phù hợp với sự quan tâm của nhà đầu tư, các cổ đông được qui định bởi FASB (2001), và UNCTAD (1998, 2002) đã đưa ra các hướng dẫn cụ thể cho việc ghi nhận các CPMT, NPTMT cũng như CBTT trên báo cáo môi trường (BCMT). Việc sử dụng KTMT ngày càng gia tăng, các DN lớn công bố ngày càng thêm nhiều TTMT trong các BCHN nhằm tạo ý thức về MT (Shil và Iqbal, 2005), và sự quan tâm đối với MT không bị cô lập trong một khu vực hay trong một văn hóa cụ thể, mà nó đã thu hút sự chú ý toàn cầu (Gamble và cộng sự, 1996).

Tuy nhiên, không có NC về BCMT trong các BCHN của DN trước những năm 1970, mặc dù có nhiều NC về thực hiện KTMT của các tập đoàn khác nhau (Shil và Iqbal, 2005). Từ những năm 1970, việc CBTTMT đã luan an 10 bắt đầu trong các BCHN của các tổ chức khác nhau (Kokubu và cộng sự, 2002). Việc CBTT về KTMT sẽ giúp cho người sử dụng có nhiều thông tin hơn khi ra quyết định, và nhu cầu đối với TTMT, KTMT trong các BCHN là rất lớn (Afzal Ahmad, 2012). Phần lớn người sử dụng thông tin cho rằng TTMT là trọng yếu cho quyết định của họ và họ tìm kiếm thông tin này trong BCTC, báo cáo thường niên (BCTN) của công ty (Rankin, Michaela, 1997), và TTMT được mong muốn hơn bất kỳ thông tin xã hội nào khác (Hughes và cộng sự, 2001).

Mặc dù người dùng thường tin rằng TTMT là trọng yếu, nhưng phần lớn nhóm người dùng xếp hạng TTMT sau thông tin tài chính truyền thống như lợi nhuận, tài sản ròng, luồng tiền và thanh toán cổ tức (Rankin và Michaela, 1997). Một trong những lý do làm gia tăng mối quan tâm về tác động MT của các quy trình SX, hoạt động kinh doanh của DN là sự mở rộng kiến thức về các hệ sinh thái (Sahay, 2004), nhận ra tầm quan trọng của CBTTMT đã tăng lên trong cộng đồng DN, và KTMT chủ yếu giải quyết để cung cấp thông tin tốt hơn cho CBLQ (Shil và Iqbal, 2005). Cũng chính nhận thức về môi trường đã dẫn đến nhu cầu trách nhiệm MT ngày càng gia tăng trong DN, tổ chức, vì vậy có nhiều công ty hiện đang công bố các vấn đề MT (Belal, 2000). BCMT, thông tin KTMT của công ty chính là công cụ giúp cho công ty CBTTMT để cung cấp bằng chứng rằng công ty có trách nhiệm với hoạt động của chính mình tác động đến MT xung quanh.

TTMT là một trong những yếu tố được trình bày trong báo cáo TNXH của DN (CSR). CSR là chính sách của tổ chức xác định mối quan tâm về các vấn đề xã hội như: MT, nguồn nhân lực, cộng đồng và sản phẩm an toàn (Roberts, 1992). Vì vậy, báo cáo các vấn đề về xã hội, MT là một phương pháp để giải thích các chính sách CSR và chịu trách nhiệm về các hành động đạo đức, xã hội và môi trường (Brammer và Pavelin, 2006). Bằng cách công bố các hoạt động MT của công ty thông qua BCMT, báo cáo KTMT, các công ty loại bỏ những nhận thức tiêu cực về công ty từ công chúng và CBLQ.

Điều này đã dẫn đến số lượng các công ty tham gia báo cáo TTMT ngày càng tăng và do đó, các CBTTMT của công ty đã tăng cả về quy mô và mức độ phức tạp, đặc biệt là từ những năm 1990, việc CBTTMT của công ty đã được coi là một khía cạnh quan trọng của CBTT của DN, và CBTTMT của DN đã thu hút sự chú ý tăng trưởng luan an 11 đáng kể từ các nhà NC (Halil Emre Akbas1 và Seda Canikli, 2014). Nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Canada, Đức, Nhật Bản, … tích cực tiến hành NC về thông tin KTMT cũng như các biện pháp quan trọng về bảo vệ MT đã được thực hiện. Hầu hết các NC về kỹ thuật CBTTMT của DN tập trung vào các quốc gia Anglo-Saxon (Gray và cộng sự, 1995). Các công ty Mỹ cung cấp tỷ lệ phần trăm cao nhất trong các công ty CBTTMT; và mô hình kế toán Anh-Mỹ tạo ra tỷ lệ phần trăm cao nhất trong số các công ty sử dụng các hình thức CBTTMT khác nhau (Freedman và Wasley, 1990).

Hughes và cộng sự (2001) NC các hoạt động BCMT thực hiện bởi 51 công ty SX của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1992 và 1993, và thấy rằng hiệu suất công bố khác nhau giữa các công ty. Đầu những năm 1990, Châu Âu đặc biệt thú vị khi NC thực tiễn CBTTMT vì đây là ngôi nhà của nhiều nhóm môi trường hoạt động tích cực, các loại hệ thống TTKT khác nhau và thái độ văn hóa đối với công bố xã hội cũng khác so với những nơi khác (Roberts, 1991). Mặc dù những công ty ở Pháp, Đức, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ phần lớn có CBTTMT nhưng mức độ CBTTMT là thấp và khác nhau đáng kể giữa các quốc gia châu Âu (Gamble và cộng sự, 1996). Moneva và Liena (2000) thấy rằng các công ty của Tây Ban Nha có tác động lớn đến MT trong giai đoạn 1992-1994, có thực hiện CBTTMT trong các BCHN của họ, có sự gia tăng cả về mặt định lượng, tài chính, cũng như số lượng các công ty tham gia báo cáo tuy nhiên BCMT của các công ty này chủ yếu mô tả.

Các NC cho thấy ngày càng nhiều tổ chức quyết định báo cáo TTMT cho CBLQ và có cải thiện việc CBTT về KTMT. Khi nghiên cứu 250 DN Fortune 500 lớn nhất đại diện cho các công ty từ Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Hàn Quốc, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ trong từ 1998 – 2001, Nikol (2003) kết luận rằng báo cáo PTBV đã tăng đáng kể trong các quốc gia đó và BCMT được áp dụng nhiều ở lĩnh vực SX công nghiệp hơn là tài chính. Đã có những tiến bộ đáng kể trong các vấn đề CBTT về KTMT, đặc biệt ở các nước như Đức, Na Uy, Vương quốc Anh, đã quy định về vấn đề trình bày các báo cáo thông tin KTMT cho CBLQ cũng như công chúng. BCMT được các tổ chức áp dụng rộng rãi, 80% các công ty lớn nhất thế giới đưa ra các báo cáo CSR độc lập (KPMG, 2008).

Các DN có mức độ gây ô nhiễm cao bị phản ứng thị trường tiêu cực hơn so với các DN gây ô nhiễm thấp hơn, và luan an 12 các DN có CBTTMT ở mức độ thấp hơn trong báo cáo bị phản ứng thị trường tiêu cực hơn so với các DN có CBTTMT rộng rãi hơn (Patten, 2004), các DN có xu hướng ô nhiễm cao thường CBTTMT nhiều hơn, và mặc dù các DN có sự cải thiện việc CBTTMT tuy nhiên sự thay đổi đó là không nhiều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tên "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường và tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thành Tài, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Phước và PGS. Huỳnh Đức Lọng, được thực hiện tại Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến kế toán môi trường trong ngành dệt may, từ đó đánh giá ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa kế toán môi trường và kết quả kinh doanh mà còn giúp các doanh nghiệp trong ngành dệt may tại Việt Nam nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc áp dụng kế toán môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến kế toán trong ngành dệt may, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu các nhân tố tác động đến kế toán trách nhiệm và hiệu quả hoạt động trong ngành dệt may Việt Nam". Bài viết này cũng đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến kế toán trong ngành dệt may, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về lĩnh vực này.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Nghiên cứu các nhân tố tác động đến kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp khai thác và chế biến đá xây dựng ở Đông Nam Bộ", một nghiên cứu khác liên quan đến kế toán quản trị và chi phí, giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức quản lý chi phí trong các doanh nghiệp.

Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn đa dạng và sâu sắc hơn về kế toán trong các lĩnh vực khác nhau, từ đó nâng cao kiến thức và khả năng áp dụng trong thực tiễn.