CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỘNG CƠ LÀM VIỆC 1. Khái niệm động cơ Theo Giáo trình Quản trị học của Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, động cơ ám chỉ những nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài của một con người, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định. Động cơ làm ảnh hưởng tới hiệu suất công việc của nhân viên.
Vì vậy, một phần trong công việc của nhà quản trị là phải hướng những động cơ đó vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức. Nghiên cứu động cơ thúc đẩy giúp nhà quản trị hiểu được cái gì đã thôi thúc mọi người hành động, cái gì đã ảnh hưởng đến sự lựa chọn hành động và tại sao họ lại kiên trì theo đuổi hành động đó, từ đó định hướng sử dụng các công cụ để động viên họ hăng hái, tích cực và nhiệt tình hơn trong công việc [2, tr. Theo Vroom (1964), động cơ là động lực thúc đẩy từ bên trong, dựa trên nhu cầu có ý thức và vô thức của một cá nhân thúc đẩy họ thực hiện để đạt được mục tiêu [9, tr. Theo Drafke và Kössen (1998) chỉ ra rằng việc nhận thức các khái niệm về nhu cầu là rất quan trọng cho việc tìm hiểu các hành vi của nhân viên trong công việc, và việc hiểu những nhu cầu này giúp cho các nhà quản lý thuận lợi hơn trong việc động viên các nhân viên của mình.
Họ cũng khẳng định rằng nhu cầu cũng có thể coi là động cơ, bởi vì họ có thể thúc đẩy nhân viên làm việc thông qua nó [9, tr. Robbins (1993, 1998) nhận thấy rằng động cơ là một quá trình đáp ứng nhu cầu, khi nhu cầu của một cá nhân được thỏa mãn hoặc được thúc đẩy bởi một số yếu tố (nhân tố tạo động cơ) thì các cá nhân sẽ phát huy ở mức cao và 10 nỗ lực hướng tới mục tiêu của tổ chức [9, tr. Một số tác giả khác như Saal & Knight (1988), Reeve(1996), Schermerhorn, Hunt & Osborn (1997); Balkin & Cardy (1998); Schulze & Steyn (2003); Steyn (2002) đều cho rằng có ba thành phần chính của động cơ thể hiện được bản chất và tính chất của động cơ. Cụ thể là: · Động cơ được coi là có tác dụng cung cấp thêm năng lượng cho hành vi của con người.
Trên cơ sở này, Saal và Knight (1988) định nghĩa rằng động cơ là một trạng thái gây ra bắt buộc, thúc đẩy mọi người hành động và tham gia vào hành vi cụ thể nào đó. · Động cơ có chức năng chỉ đạo. Do đó, nó giúp cá nhân đạt được các mục tiêu cụ thể. Điều này có nghĩa rằng các cá nhân có động cơ sẽ tham gia vào các hành vi và các hoạt động có thể làm tăng khả năng đáp ứng các mục tiêu của họ (Saal & Knight, 1988).
· Động cơ có chức năng duy trì, điều này giải thích tại sao các cá nhân có động cơ làm việc thường kiên trì với hành vi hay hành động cụ thể cho đến khi đạt được mục tiêu hoặc phần thưởng (Saal & Knight, 1988). Dựa trên các thành phần này nên động cơ bao gồm các lực lượng phức tạp, các biện pháp khuyến khích, nhu cầu và các cơ chế khác để thúc đẩy, hướng đến và duy trì hành vi con người nhằm thực hiện một hành động cụ thể (Anderson & Kyprianou, năm 1994, Drafke & Kössen, năm 1998, Wevers, 2000 tất cả các trích dẫn trong Steyn, 2002). Với mục đích nghiên cứu, động cơ được coi là sự sẵn sàng một cách tích cực nhắc nhở các cá nhân hành động. Các nhân tố ảnh hưởng hoặc dẫn đến sự sẵn sàng tích cực này được coi là yếu tố tạo động cơ, bao gồm các nhu cầu cụ thể, mong muốn, các nỗ lực hoặc sự thúc đẩy (Hersey và Blanchard, 1988).
Tầm quan trọng và lợi ích của việc tạo động cơ thúc đẩy Động cơ được coi là nguyên nhân của hành động, định hướng hành vi 11 chung của cá nhân. Vì vậy, muốn người khác làm theo ý mình thì trước hết cần phải tạo được động cơ làm việc cho họ, tiếp theo là thỏa mãn nhu cầu cho họ, đồng thời hướng sự thỏa mãn nhu cầu đó vào việc thực hiện mục tiêu của mình. Chính vì thế trong hoạt động quản trị cần hiểu được những nhu cầu, mong muốn của nhân viên, xem người ta thực sự cần điều gì nhất để đưa ra những chính sách chính đáng kích thích họ thực hiện những mục tiêu của tổ chức. Do đó, nhiệm vụ của các nhà quản lý là khơi dậy động cơ làm việc của nhân viên và xây dựng một hệ thống động viên có hiệu quả nhằm: - Khai thác và sử dụng năng lực cá nhân một cách tốt nhất - Khai thác năng lực tiềm ẩn của cá nhân - Xác định khả năng và tăng hiểu biết của cá nhân - Làm việc hăng say hơn, muốn làm việc hơn - Tạo cơ hội cho nhân viên tự khẳng định mình 1.
LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG CƠ LÀM VIỆC 1. Thuyết phân cấp nhu cầu của A. Maslow [2] Abraham Maslow cho rằng có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà con người khao khát được thỏa mãn. Maslow chia nhu cầu thành năm bậc và được sắp xếp theo cấp bậc từ thấp tới cao bao gồm: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện.
Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì sẽ xuất hiện các nhu cầu khác cao hơn. Các cấp bậc nhu cầu được thể hiện như sau: 12 Sự thỏa mãn Cấp bậc nhu Sự thỏa mãn trong ngoài công việc cầu công việc Cơ hội được đào Giáo dục, tôn tạo, sự phát triển, giáo, sở thích, Tự hoàn thiện trưởng thành và tự phát triển cá nhân chủ Sự thừa nhận của Sự thừa nhận, địa vị, gia đình, bạn bè Được tôn trọng trách nhiệm và cộng đồng Nhóm làm việc, Gia đình, bạn bè Quan hệ giao tiếp đồng nghiệp, khách và xã hội hàng, giám sát An toàn làm việc, Không chiến tranh, Sự an toàn đảm bảo công việc, ô nhiễm, bạo lực phúc lợi Nhiệt độ, môi trường Ăn, uống, không khí Sinh lý làm việc, lương Hình 1. Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow Theo học thuyết của Maslow thì những nhu cầu cơ bản nhất cần phải được thỏa mãn trước những nhu cầu ở bậc cao hơn và nó được thực hiện theo trật tự như sau: nhu cầu sinh lý cần được thỏa mãn trước nhu cầu an toàn, nhu cầu an toàn cần được thỏa mãn trước nhu cầu quan hệ xã hội… Một người có nhu cầu an toàn về tính mạng thì sẽ nỗ lực nhằm đảm bảo an toàn trong môi trường làm việc chứ họ không quan tâm đến nhu cầu được tôn trọng hay nhu cầu về sự tự hoàn thiện mình. Một điều nữa là khi mà một nhu cầu đã được thỏa mãn thì nó sẽ trở nên ít quan trọng hơn và người ta lại hướng đến nhu cầu ở bậc cao hơn.
Thuyết ERG [2] Clayton Aldefer đề xướng giải pháp làm đơn giản hóa học thuyết của 13 Maslow - học thuyết được cho là thiếu kinh nghiệm thực tế, bằng thuyết gọi là ERG. Thuyết của Clayton Aldefer đã xác định 3 nhóm nhu cầu cơ bản của con người như sau: § Những nhu cầu về sự sinh tồn § Những nhu cầu về quan hệ giao tiếp § Những nhu cầu về sự phát triển Nhìn chung lý thuyết này gần giống như thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow. Tuy nhiên, Aldefer đã giảm số bậc nhu cầu chỉ còn có ba cấp thay vì năm cấp và cho rằng các chuyển dịch lên nhu cầu ở bậc cao hơn thì càng phức tạp hơn, và một sự thất bại trong việc đáp ứng nhu cầu cấp cao sẽ tạo ra sự sụt giảm đối với nhu cầu cấp thấp đã được thỏa mãn. Vì thế một nhân viên khi không thể thỏa mãn nhu cầu cho sự phát triển cá nhân thì anh ta sẽ quay lại tìm cách thỏa mãn những nhu cầu ở bậc thấp hơn và hướng đến việc kiếm được nhiều tiền.
Vì vậy mô hình ERG trở nên ít cứng nhắc hơn so với hệ thống phân cấp nhu cầu của Maslow, tức là mỗi cá nhân có thể linh hoạt trong việc lựa chọn sự thỏa mãn nhu cầu tùy thuộc vào khả năng của mình. Thuyết hai yếu tố [2] F. Herzberg và một số nhà khoa học hành vi khác tập trung xem xét công tác động viên, thúc đẩy nhân viên bằng cách khảo sát thực tế và đã đi đến kết luận sau: các yếu tố có liên quan đến tinh thần và thái độ làm việc của người lao động được chia thành hai nhóm như hình 1.2 như sau: 14 Nhân tố thúc đẩy Nhân tố duy trì - Thành tựu - Giám sát - Sự công nhận - Chính sách công ty - Mối quan hệ với giám sát viên - Ý nghĩa công việc - Điều kiện làm việc - Tính trách nhiệm - Lương - Sự thăng tiến - Mối quan hệ với đồng nghiệp - Mối quan hệ với nhân viên - Sự phát triển - Sự an toàn Hoàn toàn thỏa mãn Trung lập Hoàn toàn bất mãn Hình 1. Thuyết hai yếu tố Herzberg Lý thuyết hệ thống hai yếu tố của F.
Herzberg đòi hỏi phải áp dụng đồng bộ cả hai nhóm các yếu tố, bởi các yếu tố duy trì không thể giải quyết được những vấn đề bỏ việc, sự bất bình hay năng suất thấp.Theo ông những vấn đề này chỉ được giải quyết khi vận dụng thành công các yếu tố thúc đẩy. Lý thuyết thúc đẩy theo nhu cầu [2] Lý thuyết thúc đẩy theo nhu cầu được phát triển bởi David Mc Clelland. Lý thuyết này cho rằng có một số nhu cầu nhất định cần phải có trong đời sống cá nhân. Nói cách khác, con người sinh ra không có những nhu cầu này nhưng họ học được chúng thông qua những kinh nghiệm trong cuộc sống của họ.
Ba nhu cầu thường gặp nhất là: § Nhu cầu đạt được thành công: Mong muốn hoàn thành một việc khó khăn nào đó, đạt được một thành công lớn, thực thi được những nhiệm vụ phức tạp và vượt qua được những vấn đề khác. § Nhu cầu hội nhập: Mong muốn hình thành những mối quan hệ cá nhân gần gũi, tránh xung đột và thiết lập tình bạn thân thiết. 15 § Nhu cầu về quyền lực: Mong muốn gây được sự ảnh hưởng hoặc sự kiểm soát người khác, chịu trách nhiệm với người khác và có quyền đối với người khác. Thuyết công bằng [2] J.
Stacy Adams đề cập tới vấn đề nhận thức của người lao động về mức độ được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức.