CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả tóm tắt sơ lược lại các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài đặc biệt là các bài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT tại các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Để từ đó tác giả đưa ra được nhận xét về kết quả mà các nghiên cứu trước đã tìm được và xác định khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu trước 1.
Các nghiên cứu về áp dụng KTQT tại các doanh nghiệp Chenhall và Langfield-Smith (1998) “Adoption and benefits of management accounting practices: an Australian study” đã khảo sát về việc áp dụng KTQT truyền thống và hiện đại trong các công ty sản xuất ở Úc. Những phần hành này được chia thành 5 nhóm chính theo chức năng: Lập kế hoạch dài hạn, hệ thống dự toán chi tiết, chi phí sản xuất, đánh giá thành quả, hệ thống hỗ trợ ra quyết định. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ áp dụng các kỹ thuật KTQT truyền thống cao hơn so với các kỹ thuật mới được phát triển. Tuy nhiên, các kỹ thuật mới như hệ thống chi phí dựa trên hoạt động (ABC) đã được áp dụng rộng rãi hơn so với các nghiên cứu trước đó, và nhiều công ty sản xuất lớn có ý định chú trọng hơn vào các kỹ thuật mới trong tương lai.
Sulaiman, Nik Nazli Nik Ahmad and Norhayati Alwi (2004) “Management accounting practices in selected Asian countries” nghiên cứu được thực hiện tại Singapore, Ấn Độ, Malaysisa, Trung Quốc đã xem xét mức độ các công cụ KTQT truyền thống và hiện đại đang được sử dụng tại bốn quốc gia Châu Á. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng công cụ KTQT hiện đại đang thiếu ở bốn quốc gia này và các công cụ KTQT truyền thống vẫn được sử dụng rộng rãi. Nghiên cứu của Ahmad (2012) “The use of management accounting practices in Malaysian SMES” chỉ ra rằng sự vận dụng các kỹ thuật truyền thống 8 nhiều hơn kỹ thuật hiện đại của KTQT. Các DN vừa của Malaysia vận dụng các kỹ thuật KTQT nhiều hơn so với các DN nhỏ.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Sương (2013) “Tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty sợi thuộc Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ” đã làm rõ bản chất của KTQT và những nội dung của KTQT trong doanh nghiệp dệt may Hòa Thọ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công ty có lập dự toán cho sản xuất, tập hợp đầy đủ thông tin chi phí phục vụ cho tính giá thành chính xác, bên cạnh đó công ty còn sử dụng một số mẫu báo cáo phục vụ trong KTQT đáp ứng phần nào thông tin cho nhà quản trị trong việc quản trị công ty. Tuy nhiên, việc áp dụng KTQT còn hạn chế, hệ thống lập dự toán của công ty chưa đầy đủ. Theo Phạm Thị Tuyết Minh (2015), luận án tiến sĩ kinh tế “Tổ chức công tác KTQT trong các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam”.
Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các công ty thuộc Tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam đều có bộ phận KTQT được tổ chức chung với bộ phận KTTC chưa có bộ phận KTQT riêng và thực hiện chưa đúng chức năng của nó. Mức độ thông tin KTQT cung cấp cho nhà quản trị để ra quyết định chưa thực sự phản ánh được tầm quan trọng của KTQT trong việc ra quyết định. Các công ty thuộc Tổng công ty đều đã quan tâm đến việc lập dự toán nhưng chủ yếu là dự toán mua vật tư, dự toán bán hàng và dự toán doanh thu, những dự toán khác chưa được áp dụng. Các nghiên cứu về mức độ áp dụng KTQT tại các DN Logistics Khi điều tra về thực hành quản lý chất lượng Logistics và so sánh mức độ thực hành quản lý chất lượng giữa các công ty sản xuất và công ty Logistics tại Úc Shams-ur Rahman (2008) “Quality management in logistics services: A comparison of practices between manufacturing companies and logistics firms in Australia” đã chỉ ra rằng mức độ áp dụng quy trình quản lý chất lượng của các công ty sản xuất cao hơn so với công ty Logistics.
Các công ty Logistics chưa chú trọng trong việc quản trị chất lượng dịch vụ của mình. Nghiên cứu của Hu Mingming và các cộng sự (2010) “Research on Performance Evaluation of Logistics Enterprises Based on the Balanced 9 Scorecard”. Thị trường Logistics ở Trung Quốc phát triển mạnh, nhưng các doanh nghiệp Logistics nội địa chỉ đáp ứng được 20%, phần còn lại là do các doanh nghiệp nước ngoài cung ứng. Điều này cho thấy triển vọng phát triển ngành Logistics của các công ty Logistics Trung Quốc là rất cao và rất cấp bách để tăng cường cải thiện về sức mạnh và khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoại.
Theo các tác giả đánh giá hiệu quả doanh nghiệp là cách tốt để cải thiện và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp Logistics. Dựa trên lý thuyết các bên liên quan, bài viết này đã mở rộng bốn quan điểm ban đầu của BSC thêm vào chỉ tiêu các bên liên quan để xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và hợp lý phản ánh hiệu quả của các doanh nghiệp Logistics một cách hiệu quả hơn. Nghiên cứu của Justyna Dobroszek và Anna Szychta (2015) “Indicators as an Instrument of measurement in management accounting in Logistics Enterprise in Poland” đã trình bày các chỉ số trong KTQT được tính toán để đo lường hiệu suất kinh doanh tại các doanh nghiệp Logistics ở Ba Lan. Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của việc áp dụng KTQT và hệ thống KTQT được triển khai khoảng một nửa các doanh nghiệp Logistics tại Ba Lan, dựa trên các chỉ số phân tích để giúp nhà quản trị thấy được rủi ro, lập kế hoạch, ra quyết định đầu tư cũng như đưa ra chiến lược hoạt động.
Năm 2004, Drew Stapleton và các cộng sự đã đưa ra kết luận phương pháp ABC giúp cho các công ty hoạt động hiệu quả hơn, nó thay thế cách tính toán bằng phương pháp truyền thống, tính toán chi phí sản phẩm dựa trên chi phí lao động, loại bỏ hoặc làm giảm các hoạt động phi giá trị tăng thêm. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra mặt hạn chế về việc áp dụng phương pháp ABC này là tốn kém về chi phí hoạt động, tốn nhiều thời gian thích nghi và điều chỉnh. Vào năm 2008, Adil Baykasoglu và Vahit Kaplanoglu đưa ra kết luận các công ty vận tải đường bộ áp dụng kỹ thuật tính giá dựa trên chi phí hoạt động (ABC) có sự khác biệt rõ rệt về phân bổ chi phí hợp lý hơn so với phương pháp truyền thống. Tiếp theo đó vào năm 2011, tác giả Xiao Ma, Jie Li và Bin Yang ở Trung Quốc đã cho thấy được lợi ích khi áp dụng phương pháp tính giá dịch vụ Logistics dựa trên chi phí hoặt động.
10 Năm 2015, các nhà nghiên cứu Zoltán Bokor và Rita Markovits-Somogyi nhận thấy được vấn đề nan giải của ngành Logistics đang chịu phải một áp lực về cạnh tranh gay gắt trên thị trường Châu Âu. Các DN logistics phải cung cấp dịch vụ chất lượng cao với giá thấp nhất có thể và đồng thời phải hoạt động bền vững thì mới có thể tồn tại được. Để đáp ứng được các yêu cầu đó thì đòi hỏi thông tin phải kịp thời, chính xác và đáng tin cậy. Vì vậy mà tác giả đã nghiên cứu xây dựng mô hình về ứng dụng KTQT sử dụng kỹ thuật xác định chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (ABC).
Thông qua kỹ thuật tính toán này tác giả nhấn mạnh rằng các chi phí dịch vụ do sử dụng phương pháp ABC cung cấp có thể chính xác hơn so với phương pháp truyền thống. Bên cạnh các nghiên cứu nước ngoài, tại Việt Nam cũng các một số tác giả tiến hành nghiên cứu về mức độ áp dụng KTQT trong DN Logistics. “Tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp vận tải thủy nội địa Logistics trên địa bàn TP.HCM” luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thành Kim Dung Đại học Kinh Tế TPHCM (2013), tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức KTQT khảo sát tại 30 doanh nghiệp vận tải thủy nội địa Logistics có 30% DN có quy mô lớn và 70% DN có quy mô vừa và nhỏ. Qua khảo sát tác giả thấy được các DN vận tải thủy nội địa Logistics có xây dựng hệ thống KTQT chỉ chiếm 23.33%, trong khi đó các công ty chưa xây dựng hệ thống KTQT chiếm 76.
Trong các DN có xây dụng hệ thống KTQT thì DN có quy mô lớn chiếm 67%, còn lại 33% DN có quy mô vừa và nhỏ. Các DN có quy mô vừa và nhỏ chưa xây dựng hệ thống KTQT chiếm đến 95%, có xây dựng hệ thống KTQT chỉ chiếm 5%. Bên cạnh đó, thiếu nguồn lực được đào tạo chuyên môn về KTQT, chi phí bỏ ra lớn để đào tạo nhân viên KTQT cũng ảnh hưởng đến xây dựng hệ thống KTQT. Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Mai Thơm luận án tiến sĩ Đại học Hàng Hải Việt Nam (2012) “Nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam”.
Luận án đã xây dựng một mô hình tổ chức công tác KTQT chi phí và tính giá thành vận tải dự toán chuyến đi ứng dụng cho các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam. KTQT sẽ là nguồn cung cấp 11 thông tin quan trọng, có cơ sở khoa học và thực tế linh hoạt, đáng tin cậy cho việc ra các quyết định về giá cước, kiểm soát chi phí và các quyết định quản trị khác. Bên cạnh đó, tác giả rút ra được những mặt đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại trong công tác kế toán chi phí như tính giá thành; phân loại và nhận diện chi phí; dự toán chi phí hỗn hợp; phân tích chi phí theo góc độ của KTQT. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan luận án tiến sĩ Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) “Tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng hóa trong các công ty vận tải đường bộ Việt Nam” tác giả đã tìm hiểu thực trạng của tổ chức KTQT chi phí vận tải hàng hóa trong các công ty vận tải đường bộ Việt Nam, cho thấy tầm quan trọng của KTQT để từ đó đưa ra các giải pháp để nghiên cứu hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng hóa trong các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam.
Nghiên cứu của Lê Thị Mỹ Nguyệt luận văn thạc sĩ Đại học Kinh Tế TP.HCM (2014) “Tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Logistics trên địa bàn TP.