CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1.1 Các nghiên cứu có liên quan 1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài 1. Nghiên cứu của tác giả Ouda Hassan (2004, 2008). Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã xây dựng mô hình các nhân tố dẫn đến sự thành công của việc thực hiện chuyển đổi cơ sở kế toán từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích ở các nước phát triển và đang phát triển dựa trên việc nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện thành công kế toán khu vực công trên cơ sở dồn tích ở New Zealand, Anh và Úc. Theo Ouda Hassan, việc thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích của khu vực công thành công sẽ giúp cải thiện chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính, cải thiện được việc đánh giá hiệu quả thực hiện các hoạt động, trình bày thông tin tình hình tài chính của chính phủ, quản lý tài sản và nợ tốt hơn.
Tác giả cũng mở rộng vấn đề bàn luận sang các nước đang phát triển, theo Ouda, các nước đang phát triển sẽ khó thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích cho khu vực công hơn các nước phát triển vì các nước đang phát triển phải đối mặt với các vấn đề sự thâm nhập ngày càng lớn mạnh của gian lận và tham nhũng vào mọi giao dịch của khu vực công, sự thống trị của hệ thống chính trị phi dân chủ kìm hãm sự đổi mới, thiếu nhân sự có trình độ chuyên môn, thiếu kỹ năng của con người, thiếu kỹ thuật, phương tiện, thiếu tài chính, thiếu khả năng thiết lập các chuẩn mực kế toán, người dân chưa có nhận thức cao về việc đòi hỏi quyền sử dụng thông tin nên không tạo áp lực để chính phủ cải cách việc cung cấp thông tin kế toán của khu vực công. Ngoài ra các nước đang phát triển còn đối mặt với các vấn đề về tình hình kinh tế vĩ mô như: tỷ lệ lạm phát cao, ổn định tiền tệ, nợ công quốc gia lớn và thâm hụt chi tiêu quốc gia, hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém, thiếu quản lý trong khu vực công.Chính những vấn đề này cũng là rào cản khiến cho các nước đang phát triển chậm cải cách kế toán khu vực công. Vì vậy, theo tác giả, các nước đang phát triển muốn cải cách kế toán trên cơ sở dồn tích thành công 10 cần phải có sự can thiệp và tài trợ mạnh của các tổ chức quốc tế trên nhiều phương diện đặc biệt là phương diện về tài chính. Nghiên cứu của Ali, R (2008).
Luận án đã trình bày nội dung về cơ sở kế toán dồn tích và quá trình cải cách khu vực công thông qua việc sử dụng ví dụ thực tiễn và kinh nghiệm tại các nước thuộc khu vực Bắc Úc. Tác giả nhấn mạnh đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích giúp cải thiện trách nhiệm giải trình, đặc biệt trong việc quản lý các nguồn lực của nhà nước vì nó cung cấp một cách đầy đủ chi phí các nguồn lực được sử dụng và cung cấp thông tin một cách toàn diện hơn. Theo bài nghiên cứu của tác giả, ngoài những lợi ích đã nêu, thì kế toán cơ sở dồn tích cũng mang lại một số lợi ích như: quản lý tài sản được chặt chẽ hơn vì đơn vị đã am hiểu hơn về tài sản của họ, thông tin tài sản dồn tích sẽ hỗ trợ các cơ quan, đơn vị trong việc kiểm soát cũng như đánh giá hợp lý về sự sụt giảm giá trị của tài sản, từ đó tạo điều kiện cho các quyết định thay thế hoặc bán những tài sản này. Bên cạnh đó, kế toán dồn tích còn giúp tăng cường trách nhiệm giải trình trong hoạt động quản lý phân chia tài sản của đơn vị công vì giảm độ rủi ro trong việc trộm cắp và hư hỏng các tài sản.
Nghiên cứu của Mark Christensen (2009). Luận án xem xét lý do tại sao Chính quyền tiểu bang New South Wales (Úc) đã quyết định thực hiện chuẩn mực kế toán công quốc tế trên cơ sở kế toán dồn tích và tác động của sự thay đổi chế độ kế toán ở Úc trong việc ra quyết định. Tác động chính sách phát sinh từ dự án này là một mô hình mới - kế toán dồn tích là cần thiết nhưng phải chú ý rằng sự thay đổi kế toán cần phải được kết hợp với đặc điểm tổ chức các cấp chính quyền. Nghiên cứu của Johan, C.
Nội dung của nghiên cứu nhằm trả lời 2 câu hỏi nghiên cứu, thứ 1: những yếu tố nào giải thích cho việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích tại các quốc gia châu Âu theo những mức độ khác nhau? Và thứ 2: điều gì giải thích cho việc áp 11 dụng chuẩn mực IPSAS theo những mức độ khác nhau tại các nước châu Âu? Để thực hiện bài nghiên cứu của mình, tác giả đã tạo một bảng câu hỏi và thực hiện một cuộc khảo sát tại 17 quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu EU. Bằng việc khảo sát ý kiến các chuyên gia, nghiên cứu đã điều tra về mức độ của các Chính phủ Châu Âu áp dụng kế toán dồn tích và giải thích các mức độ khác nhau trong việc lựa chọn cơ sở dồn tích ở các quốc gia này. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy rằng hầu hết các quốc gia đều chuyển sang áp dụng kế toán theo IPSAS dựa trên cơ sở dồn tích. Với nghiên cứu này, có thể thấy rằng việc vận dụng theo IPSAS đã được thực hiện trong nhiều năm trước tại các quốc gia.
Nghiên cứu của Timosenko, K. Nội dung của bài nghiên cứu nhằm nghiên cứu về thực trạng quá trình chuyển đổi từ cơ sở kế toán tiền mặt sang cơ sở kế toán dồn tích tại 2 quốc gia là Nepal ( quốc gia đang phát triển) và Nga ( quốc gia đang thực hiện chuyển đổi). Hiện nay, có khá nhiều các Chính phủ tại các nước trên thế giới đã tiến hành chuyển đổi kế toán từ cơ sở tiền sang cơ sở dồn tích, đồng thời vận dụng theo bộ chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSAS. Đây chính là cơ sở cho nghiên cứu của tác giả.Theo bài nghiên cứu, ý tưởng cải cách hệ thống kế toán công tại 2 quốc gia này đều bị ảnh hưởng nhiều từ các tổ chức quốc tế.
Các nghiên cứu ủng hộ kế toán cơ sở dồn tích trong khu vực công đã nhấn mạnh đến lợi ích của nó như tăng cường tính minh bạch, hiệu quả hoạt động và tạo ra thông tin toàn diện về chi phí hoạt động (Carlin, 2005; Näsi & Vinnari, 2008; Budding & Groot, 2008). Các tổ chức quốc tế như IFAC, IMF, WB và OECD trực tiếp hoặc gián tiếp ủng hộ xu hướng chuyển đổi sang kế toán dồn tích (Paulsson, 2006). Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên quan điểm của mình rằng muốn thực hiện thành công việc chuyển đổi thì mỗi quốc gia cần có cách thức riêng vì hệ thống định chế ở mỗi quốc gia có sự khác biệt với nhau. Nghiên cứu của Carmen Cretu và cộng sự (2011).
Từ việc nghiên cứu IPSAS và phân tích các nội dung thông tin trình bày trên BCTC khu vực công trên cơ sở dồn tích theo IPSAS, tác giả khẳng định việc lập và trình bày BCTC theo IPSAS bao gồm năm báo cáo: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo tình hình thay đổi vốn chủ sở hữu và bảng thuyết minh BCTC thì chắc chắn thông tin cung cấp sẽ có chất lượng tốt hơn, tăng tính hữu ích của thông tin nhưng việc lập BCTC đáp ứng yêu cầu IPSAS cũng là thách thức rất lớn đối với Chính phủ các quốc gia trên thế giới vì cần có nhân sự có trình độ chuyên môn cao, am hiểu về kế toán khu vực công và sự chấp nhận tốn kém chi phí thực hiện việc cải cách kế toán theo chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSAS. Tóm lại, qua tổng kết các công trình nghiên cứu của những tác giả ở nước ngoài, tác giả nhận thấy mỗi quốc gia đều áp dụng những chính sách kế toán của riêng mình. Tuy nhiên, với xu thế hội nhập và phát triển, việc áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế là cần thiết và song song với nó luôn là việc cải cách kế toán khu vực công.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước - Nghiên cứu của Bùi Văn Mai (2007) dựa trên quan điểm của một nhà ban hành chính sách, tác giả khẳng định Việt Nam sẽ vận dụng IPSAS để ban hành chuẩn mực kế toán công cho riêng mình.Theo tác giả, để chuẩn bị cho việc ban hành chuẩn mực kế toán công Việt Nam, thực hiện cải cách kế toán khu vực công Việt Nam trên cơ sở dồn tích tuân thủ theo IPSAS thì Việt Nam cần phải hội đủ ba điều kiện: (1) điều kiện về pháp lý, (2) điều kiện về kỹ thuật nghiệp vụ, (3) điểu kiện về tổ chức thực hiện. Trong đó, điều kiện về pháp lý cụ thể là cần sửa đổi luật NSNN, các chính sách tài chính có liên quan đến kế toán công.
Điều kiện về kỹ thuật nghiệp vụ cụ thể là cần phân biệt các yêu cầu, cơ sở của việc lập BCTC và báo cáo quyết toán thu chi ngân sách và cần xây dựng mô hình tổng kế toán nhà nước. Điều kiện tổ chức thực hiện cụ thể là tổ chức đào tạo và đào tạo lại nhân sự 13 kế toán trong khu vực công, thành lập các ban soạn thảo CMKT, tranh thủ sự giúp đỡ của tổ chức tài chính và các tổ chức nghề nghiệp quốc tế. - Nghiên cứu của Đặng Thái Hùng (2008), “Kế toán Nhà nước Việt Nam và sự tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về kế toán” Trong bài viết, tác giả đã cung cấp một bức tranh tổng quát về cơ sở lý luận đối với hệ thống tài chính Nhà nước, kế toán trong khu vực Nhà nước cũng như những yêu cầu về việc tổ chức thực hiện kế toán công tại Việt Nam trong những năm sau và định hướng cho quá trình hội nhập cũng như tiếp cận chuẩn mực kế toán quốc tế IPSAS trong khu vực công. - Nghiên cứu của Đoàn Xuân Tiên (2009), “Hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế và quan điểm xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam”.
Bài viết được tác giả tìm hiểu các vấn đề chung nhất liên quan đến bộ chuẩn mực kế toán khu vực công quốc tế do IPSASB ban hành, từ đó tác giả liên hệ với tình hình tại Việt Nam, tiến hành đề xuất một số giải pháp trong việc xây dựng và áp dụng bộ chuẩn mực kế toán công đầu tiên của Việt Nam.