CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý thuyết về lựa chọn chính sách kế toán 1.1 Khái niệm chính sách kế toán Để hiểu về chính sách kế toán, trước hết tác giả trình bày khái niệm về chính sách: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2002): “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”. Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau, từ các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp… nhằm giải quyết vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó và chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS), các chính sách kế toán đưa ra các nguyên tắc phải tuân theo trong việc lựa chọn các chính sách kế toán và nội dung chi tiết cần thiết để giúp người sử dụng hiều các chính sách kế toán áp dụng và các công ty đã thực hiện chính sách kế toán như thế nào. Chuẩn mực kế toán quốc tế xác định các chính sách kế toán là “những nguyên nhân, căn cứ, công ước, quy tắc và thực tiễn áp dụng bởi một doanh nghiệp được xác định rõ các tác động của giao dịch và các sự kiện khác sẽ được phản ánh trong báo cáo tài chính của nó”. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 (2005) về “thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót” thì: Chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC.2 Vai trò của chính sách kế toán Kế toán luôn là công cụ đắc lực để thông tin tình hình kinh tế - tài chính, quản lý các hoạt động kinh tế cho một tổ chức, đơn vị. Những thông 14 tin kế toán cung cấp thực sự hữu ích khi đáp ứng được yêu cầu về thông tin quản lý.
Chính sách kế toán là một trong những chính sách đặc biệt quan trọng trong việc kinh doanh của đơn vị. Chính sách kế toán được doanh nghiệp lựa chọn theo chuẩn mực kế toán phù hợp với loại hình kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, do việc áp dụng chính sách kế toán khác nhau của doanh nghiệp sẽ mang lại thông tin báo cáo tài chính khác nhau, việc áp dụng chính sách kế toán phù hợp với chuẩn mực, doanh nghiệp còn phải lựa chọn chính sách kế toán để giúp họ “quản trị” lợi nhuận, mang lại thông tin có lợi nhất cho họ. Đối với kế toán viên, kiểm toán viên: Chính sách kế toán là cơ sở để thực hiện công việc đo lường và công bố thông tin kế toán phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị và tuân thủ quy định pháp luật.
Kiểm toán viên căn cứ vào CSKT để kiểm tra, phân tích số liệu, thông tin trên BCTC do kế toán viên cung cấp từ đó đưa ra các ý kiến cho rằng CSKT đã phù hợp với quy định chuẩn mực hiện hành hay chưa. Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: CSKT là công cụ đắc lực của nhà quản lý trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như kiểm soát, điều chỉnh lợi nhuận mong nuốn của doanh nghiệp. CSKT là công cụ nhằm tạo ra ngôn ngữ kinh doanh mà họ sử dụng để trao đổi với các bên liên quan như cơ quan thuế, ngân hàng, chủ nợ,. Đối với chủ sở hữu, cổ đông: CSKT dùng để xem xét, so sánh kết quả hoạt động kinh doanh mà các nhà quản lý doanh nghiệp báo cáo.
Đối với cơ quan thuế: CSKT là căn cứ để cơ quan thuế kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các thông tin công bố trên BCTC từ đó ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán… Đối với nhà đầu tư tiềm năng chủ đầu tư, ngân hàng, tổ chức tín dụng: CSKT là cơ sở xem xét khả năng, tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư cũng như cho vay.3 Lựa chọn chính sách kế toán Theo Szilveszter Fekete (2010) sự lựa chọn chính sách kế toán được hiểu là việc lựa chọn có cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể mà DN có thể áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Lựa chọn chính sách kế toán là việc doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán. Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng (VAS 21, 2003).4 Mục tiêu của việc lựa chọn chính sách kế toán Theo kết luận nghiên cứu của Mariana Gurau (2014) những người khác nhau thì có góc nhìn khác nhau về tình hình tài chính của DN, vì vậy tùy vào từng trường hợp cụ thể mà sẽ có mục tiêu lựa chọn CSKT tương ứng. Có ba mục đích của việc lựa chọn CSKT: Mục đích thứ nhất, CSKT nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Các DN sẽ có động cơ mạnh liên quan đến việc lựa chọn CSKT theo hướng giảm chi phí trong báo cáo thu nhập (báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) bởi vì những quy định nghiêm ngặt trong ghi nhận doanh thu. Mục đích thứ hai, CSKT nhằm mục tiêu bảo toàn vốn bằng cách giảm thiểu chi phí để ổn định DN trong nguyên tắc hoạt động liên tục cùng với sự phát triển kinh doanh. Các DN sẽ lựa chọn CSKT có thể san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn (đảm bảo hoạch định tài chính dài hạn). 16 Mục đích thứ ba, CSKT nhằm thực hiện tuân thủ các quy định của luật thuế.
Các DN sẽ lựa chọn CSKT sao cho trong toàn chu kỳ sống của DN, số thuế thu nhập (thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân của chủ doanh nghiệp/cổ đông) phải đóng là thấp nhất. Mục tiêu lựa chọn chính sách của doanh nghiệp nhằm đem đến lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Kế toán được xem là một công cụ của người quản lý để kiểm tra, giám sát mọi hoạt động và vận hành doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Tùy thuộc theo mục tiêu điều chỉnh lợi nhuận tăng giảm cho doanh nghiệp thì kế toán sẽ lựa chọn chính sách nào phù hợp để điều chỉnh theo yêu của của nhà quản lý.
Khi nhà quản lý muốn cung cấp thông tin ra bên ngoài thì kế toán cũng phải lựa chọn sao cho hợp lý và cung cấp thông tin có lợi nhất cho mình.2 Các văn bản liên quan quy định đến chính sách kế toán hiện hành Việt Nam hiện nay Hiện nay tại Việt Nam cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể là Bộ Tài Chính là tổ chức lập quy, chịu trách nhiệm ban hành các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách kế toán. Hoạt động kế toán DN hiện nay được điều tiết thực hiện theo khung pháp lý bao gồm: Luật kế toán và Nghị định hướng dẫn thi hành luật, Hệ thống chuẩn mực kế toán và các thông tư hướng dẫn chuẩn mực, chế độ kế toán hướng dẫn thực hành công tác kế toán. Luật kế toán hiện hành đang áp dụng hiên nay là luật kế toán số: 88/2015/QH13 ban ngày 20/11/2015 được thực hiện từ ngày 01/01/2017. Luật quy định những vấn đề chung để xây dựng chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
Chuẩn mực kế toán là những quy định, hướng dẫn cần được tôn trọng khi thực hiện các công việc kế toán và khi trình bày các thông tin trên báo cáo tài chính sao cho đảm bảo tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Hiện nay, Bộ Tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán áp dụng cho doanh nghiệp 17 cùng với các thông tư hướng dẫn kèm theo hướng dẫn thông tin chi tiết nội dung các chuẩn mực liên quan đến chính sách kế toán, từ đó giúp chính sách kế toán nhanh chóng đi vào thực tế công tác kế toán tại doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp áp dụng các chuẩn mực vào thực tiễn diễn ra hàng ngày. Chế độ kế toán là văn bản pháp lý do Bộ tài chính ban hành nhằm hướng dẫn cụ thể về kế toán cho doanh nghiệp bao gồm quy định cụ thể về kết cấu tài khoản, chứng từ, sổ sách, báo cáo và các sơ đồ kế toán chủ yếu. Hiện tại các DN hoạt động có quy mô lớn, kinh doanh nhiều ngành nghề, hoạt động kinh doanh phức tạp thì hoạt động kế toán tuân thủ theo Thông tư 200/2014/TT - BTC, Thông tư này thay thế cho Quyết định 15/2006/QĐ - BTC.
Các DNNVV thì hoạt động theo Thông tư 133/2016/TT - BTC, Thông tư này thay thế cho Quyết định 48/2006/QĐ - BTC ban hành vào tháng 09/2006. Tại Việt Nam hiện nay việc thực hiện chính cách kế toán chịu sự chi phối của nhiều cấp văn bản khác nhau, các văn bản này được ban hành bởi cơ quan quản lý nhà nước. Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải căn cứ vào các văn bản pháp lý hiện hành có liên quan khi lựa chọn chính sách kế toán áp dụng cho doanh nhiệp mình.3 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa và đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 18 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ.