phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng với các nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tài chính vi mô Chƣơng 2: Thực trạng phải triển TYM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Chƣơng 3: Giải pháp phát triển TYM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 8 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ 1.1 Tài chính vi mô và sự phát triển tài chính vi mô 1.1 Tổng quan về hệ thống tài chính Hệ thống tài chính bao gồm các sản phẩm dịch vụ tài chính, các tổ chức cung cấp cũng nhƣ các hạ tầng và khuôn khổ pháp lý cho sự hoạt động tài chính. Dựa vào tiêu thức khuôn khổ hệ thống pháp lý cho sự hoạt động của lĩnh vực tài chính. Hệ thống tài chính cơ bản đƣợc chia thành cấu trúc ba bậc: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực không chính thức. Sự phân chia này cũng rất phù hợp và tƣơng tự nhƣ sự phân chia trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế đang phát triển.1 Khu vực chính thức Khu vực chính thức trong lĩnh vực tài chính bao gồm các tổ chức tài chính nhƣ ngân hàng, tổ chức tài chính thuộc quyền sở hữu của Nhà nƣớc, tƣ nhân, tổ chức kinh tế hay dƣới những hình thức liên doanh, liên kết trong và ngoài nƣớc.
Đây là những tổ chức có đăng ký kinh doanh với pháp luật và cung cấp các dịch vụ tài chính chủ yếu cho các khách hàng ở thành thị, các khu công nghiệp và cũng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn. Hệ thống pháp luật hiện hành cho sự hoạt động của các tổ chức, đơn vị kinh doanh trong khu vực này tƣơng đối đầy đủ và không ngừng đƣợc hoàn thiện. Khu vực chính thức có tiềm năng phát triển rất lớn nhờ vào những nguồn lực đƣợc huy động từ trong và ngoài nƣớc, những sự hỗ trợ từ phía Nhà nƣớc, các tổ chức làm cho khu vực này đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế. Các khách hàng của khu vực chính thức thƣờng là những tổ chức, doanh nghiệp có quy mô lớn của Nhà nƣớc và tƣ nhân có khả năng về tài sản thế chấp, có nhu cầu về những khoản vốn vay lớn cho phát triển sản xuất, mở 9 z rộng kinh doanh hoặc xây dựng các công trình, nhà máy, hệ thống thủy lợi, hệ thống giao thông, hạ tầng kỹ thuật… 1.2 Khu vực bán chính thức Trong lĩnh vực tài chính, khu vực bán chính thức là khu vực bao gồm các đơn vị, tổ chức có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, sản phẩm dịch vụ bị hạn chế nhƣng lại đáp ứng đƣợc các nhu cầu đa dạng của một số bộ phận thị trƣờng cho những cá nhân, tổ chức có thu nhập thấp, trung bình trong cả khu vực thành thị và nông thôn.
Các tổ chức tài chính có thể đƣợc thành lập ngay từ đầu nhằm cung cấp dịch vụ tài chính cho các khách hàng, nhƣng cũng có thể bắt đầu từ những mục đích nghề nghiệp nhƣ đào tạo nghề, trao đổi thông tin,… rồi phát triển thành các tổ chức cung cấp tài chính. Cho dù mục tiêu ban đầu khi thành lập là khác nhau nhƣng các tổ chức cung cấp tài chính trên đều phải đƣợc các cơ quan hữu quan cấp phép hoạt động, song những cơ quan đó lại không phải thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng và sự hoạt động thƣờng không theo các quy định và chịu sự giám sát của Ngân hàng Trung ƣơng. Khách hàng của các nhà cung cấp tài chính thƣờng là những đối tƣợng có mức thu nhập thấp, trung bình trong cả khu vực thành thị và nông thôn. Những khách hàng này thƣờng có nhu cầu về những món vay nhỏ nhằm cải thiện điều kiện sản xuất, trang bị thêm kiến thức, bổ sung tài sản sản xuất, vay tiêu dùng… Trong khi các điều kiện đảm bảo gặp nhiều hạn chế, chính vì vậy khả năng tiếp cận của họ đến các dịch vụ tài chính chính thức là rất khó khăn, cộng thêm những quy trình tín dụng, giải ngân, giám sát phức tạp và phiền hà.
Vì thế khu vực bán chính thức nhƣ là một sự bổ sung các sản phẩm dịch vụ cho thị trƣờng, theo các nhà kinh tế, khu vực bán chính thức phân bổ giữa khu vực chính thức và không chính thức. Khu vực này cung cấp một số lƣợng sản phẩm không nhỏ cho các khách hàng trên thị trƣờng, nơi mà khu vực chính thức hoặc không thể vƣơn tới hoặc không muốn vƣơn tới, nhƣng tiềm năng là rất lớn và tƣơng lai có thể mở rộng và phát triển của khu vực chính thức cũng có sự đóng góp từ đây.3 Khu vực không chính thức Khu vực không chính thức là khu vực bao gồm các đơn vị, cá nhân, nhóm cƣ dân, cửa hàng, hoạt động kinh doanh đơn lẻ… trong phạm vi gia đình, cộng đồng, làng xóm. Sự hoạt động của các đơn vị trong khu vực này không tuân theo quy định của pháp luật về tổ chức hoạt động cũng nhƣ những quy định của Ngân hàng. Nhà cung cấp trong khu vực này là các nhà cho vay tƣ nhân, bạn bè, hàng xóm, hụi họ, tiệm cầm đồ…Những nhà cung cấp sản phẩm trong khu vực không chính thức thƣờng cung cấp các khoản tín dụng, các món vay nhỏ cho cá nhân, hộ gia đình, những cơ sở kinh doanh nhỏ không đòi hỏi những thủ tục, quy trình thẩm định, giải ngân phức tạp.
Những yêu cầu cho vay chủ yếu từ những sự bảo đảm từ các mối quan hệ ruột thịt, sự quen biết xóm giềng hay cộng đồng sinh sống, các thói quen, phong tục, tôn giáo… phục vụ nhu cầu chung là ngắn hạn, nhằm đáp ứng cho sản xuất mùa vụ.2 Tài chính vi mô và sự phát triển của tài chính vi mô 1.1 Tài chính vi mô và hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô Hiện vẫn đang có khá nhiều quan niệm khác nhau về TCVM. Theo CGAP (2010), “Tài chính vi mô là việc cung cấp dịch vụ tài chính cho ngƣời có thu nhập thấp”. Theo Legerwood J (2013) “Tài chính vi mô là một phƣơng pháp phát triển kinh tế thông qua các dịch vụ tài chính nhằm mang lại lợi ích cho dân cƣ có thu nhập thấp. TCVM thƣờng bao gồm cả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xã hội”.
Trong khi đó, ADB (2015) cho rằng “Tài chính vi mô là việc cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính nhƣ nhận tiền gửi, cung ứng khoản vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho ngƣời nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ”. Tại Việt Nam, cho đến nay khái niệm TCVM chƣa đƣợc thừa nhận trong bất kỳ một văn bản pháp luật nào, nhƣng một khái niệm khác đƣợc sử dụng để thay thế cho TCVM, đó là tài chính quy mô nhỏ. Theo quy định tại 11 z Nghị định 28/2005/NĐ-CP thì “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và ngƣời nghèo”. Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010: TCTCVM là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng (nhận tiền gửi, cho vay, cung ứng dịch vụ thanh toán) nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.
Các tổ chức cung cấp TCVM đƣợc phân chia theo bảo sau: Bảng 1.1 Các tổ chức cung cấp TCVM Khu vực bán chính Khu vực phi chính Khu vực chính thức thức thức - Các ngân hàng thƣơng mại, - Các hợp tác xã tín - Các hiệp hội tiết đầu tƣ, tiết kiệm, phát triển dụng và tiết kiệm kiệm - Các ngân hàng phục vụ nông - Các hiệp hội tín dụng - Các hiệp hội tín dụng thôn - Các ngân hàng nhân và tiết kiệm quay vòng - Các ngân hàng theo mô hình dân không đăng ký và biến thể của nó hợp tác xã chính thức là TCTD - Các công ty tài - Các tổ chức phi ngân hàng - Các ngân hàng hợp chính, đầu tƣ phi - Các công ty tài chính tác xã chính thức - Các tổ chức tiết kiệm theo hợp - Các quỹ tiết kiệm tạo - Những ngƣời cho đồng, Quỹ hƣu trí việc làm vay các nhân thƣơng - Các công ty bảo hiểm - Các ngân hàng làng mại và phi thƣơng mại - Các thị trƣờng (thị trƣờng cổ xã không đăng ký - Các thƣơng gia và phiếu, trái phiếu) chính thức là TCTD chủ hiệu - Các TCTCVM chính thức - Các dự án phát triển, đăng ký theo luật TCTD các tổ chức phi chính phủ cung cấp dịch vụ TCVM - Các nhóm tƣơng hỗ Nguồn: Legerwood (2013) 12 z 1.2 Phát triển tài chính vi mô và các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển tài chính vi mô Đối với TCVM có nhiều nhóm chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của các TCTCVM nhƣ PEARLS, CAMELS, nhóm chỉ tiêu về mức độ tiếp cận và tính bền vững. Ngoài ra, một số chỉ tiêu khác cũng đƣợc sử dụng nhƣ quy mô và chất lƣợng dƣ nợ, quản lý tài sản và vốn đi vay, hiệu suất hoạt động và hiệu quả hoạt động. Tùy thuộc yêu cầu đánh giá, mức độ chi tiết của số liệu và nhu cầu quản lý, từng nhóm chỉ tiêu này đƣợc sử dụng. CAMELS đƣợc ứng dụng nhiều hơn cho các ngân hàng thƣơng mại, trong khi PEARLS đƣợc sử dụng để đánh giá các TCTCVM nhiều hơn.
Các nhóm chỉ tiêu này thƣờng đƣợc ứng dụng trong trƣờng hợp các TCTC có sự tƣơng đồng trên nhiều khía cạnh về quy mô tài sản, tính chất hoạt động. Trong đó, nhóm chỉ tiêu về sự tiếp cận và tính bền vững đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới để đo lƣờng sự phát triển hoạt động của các TCTCVM. Sau đây là phần mô hình hóa hai nhóm chỉ tiêu chính trên.