CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp đang nỗ lực tìm kiếm cách thức kiểm soát, quản lý, để tối thiểu hóa chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp mình. Muốn vậy, doanh nghiệp không thể thiếu được sự tồn tại của công cụ kế toán quản trị. Các quan điểm tiếp cận về kế toán quản trị ngày càng chi tiết và rõ ràng hơn, tập trung đi sâu vào từng nội dung cụ thể của kế toán quản trị. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Ban đầu trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đề cập đến kế toán quản trị dưới dạng tổng quát, cho đến những năm 1990, nhiều tác giả đã nghiên cứu chi tiết hơn về nội dung của kế toán quản trị, đi sâu tìm hiểu và áp dụng vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể. Đồng thời tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp, để từ đó có cách thức thúc đẩy hoặc khuyến khích doanh nghiệp áp dụng. Có thể khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới các góc độ sau đây: - Nghiên cứu của Tuan Mat (2010) "Kế toán quản trị và thay đổi của tổ chức: Tác động của cơ cấu tổ chức, chiến lược kinh doanh đến kế toán quản trị", kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy có sự tác động giữa KTQT và sự thay đổi về năng suất của mỗi cá nhân trong các DN sản xuất ở Malaysia. Nó tìm ra sự liên kết của các nhân tố môi trường cạnh tranh, quy trình sản xuất hiện đại với việc áp dụng KTQT trong quản lý và kinh doanh.
Trong nghiên cứu, tác giả đã chứng minh được mô hình mà trong đó những nhân tố về cấu trúc DN, môi trường cạnh tranh và quy trình sản xuất hiện đại có liên quan đến việc áp dụng KTQT. Các kết quả này chỉ ra rằng mô hình có thể ứng dụng vào thực tiễn tại Malaysia. [31] - Công trình nghiên cứu của tác giả Jalaludin, Sulaiman and Ahmad (2011) - "Hiểu về việc vận dụng kế toán quản trị môi trường, quan điểm mới trong môi trường mới", kế thừa thang đo từ DiMaggio and Powell (1983) nhằm mục đích tìm hiểu mối liên hệ giữa những áp lực trong lý thuyết thể chế và việc áp dụng EMA. Từ kết quả bảng khảo sát của nhân viên kế toán, tác giả tiến hành nghiên cứu và phát hiện thấy rằng áp lực cưỡng chế không có mối quan hệ nào với việc áp dụng EMA.
Nhưng trong bài phỏng 7 vấn chuyên sâu thì cho thấy kết quả ngược lại. Cụ thể, kế toán viên được phỏng vấn nói rằng họ bị áp lực bởi khách hàng, nhà đầu tư, tổ chức trong ngành và chính phủ về hiệu suất môi trường. Còn nhân tố áp lực quy chuẩn và việc sử dụng EMA có mối quan hệ qua lại lẫn nhau theo kết quả từ các cuộc điều tra, tuy nhiên kết quả phân tích phỏng vấn chuyên sâu không cho thấy mối quan hệ của hai biến này. - Tác giả Kamilah Ahmad (2012) "Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng thông lệ kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Malaysia".
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu phân tích tác động của từng nhân tố đối với công tác KTQT tại các DN nhỏ và vừa ở Malaysia. Kamilah Ahmad đã đưa ra 5 nhân tố để nghiên cứu mức độ tác động lên việc áp dụng KTQT tại Malaysia, cụ thể là: (1) quy mô DN, (2) mức độ cạnh tranh trên thị trường, (3) cam kết của chủ sở hữu người quản lý DN, (4) áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến và (5) trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán sẽ quyết định đến áp dụng KTQT của DN. Cách thức đo lường các biến này (những nhân tố tác động) đã được tác giả trình bày rất chi tiết. Giả thuyết được tác giả đưa ra chính là cả năm nhân tố đã phân tích ở trên đều có tác động đồng biến đến việc áp dụng KTQT.
Sau khi tiến hành đánh giá và phân tích số liệu thu được, kết quả cho thấy chỉ có bốn nhân tố đầu tiên: (1) quy mô DN, (2) mức độ cạnh tranh trên thị trường, (3) cam kết của chủ sở hữu người quản lý DN, (4) áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến có tác động đồng biến đối với áp dụng KTQT. Nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ hơn những nhân tố tác động đến việc áp dụng KTQT trong các DN sản xuất quy mô vừa phải ở quốc gia đang phát triển. Dữ liệu được thu thập qua bảng câu hỏi khảo sát dành cho những đối tượng tham gia bao gồm các DN nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực sản xuất ở Malaysia, với mẫu chính thức là 110 DN. Hồi quy logistic nhị phân được dùng trong điều tra các vấn đề nghiên cứu.
[30] - Tác giả Alper Erserim (2012) "Tác động của văn hóa tổ chức, đặc điểm của doanh nghiệp và môi trường bên ngoài đến việc vận dụng kế toán quản trị, nghiên cứu thực nghiệm tại các DN sản xuất tại Thổ Nhĩ Kỳ". Đây là nghiên cứu khảo sát được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của văn hoá tổ chức và thái độ của con người đối với môi trường bên ngoài của DN đến thực hành KTQT ở các DN sản xuất tại Thổ Nhĩ Kỳ. Nghiên cứu được thực hiện với mẫu khảo sát là 84 DN sản xuất tại Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu chỉ ra rằng văn hoá tổ chức, nhận thức của nhà quản trị có liên quan đến việc áp 8 dụng KTQT, kết quả đó được đưa ra khi tác giả nghiên cứu 2 giả thuyết bao gồm: (1) Việc áp dụng KTQT chịu ảnh hưởng từ văn hoá DN, (2) Việc áp dụng KTQT bị chi phối bởi cơ cấu tổ chức doanh. [25] - Nghiên cứu của tác giả Deni Iskandar (2015) đã thực hiện nghiên cứu “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của việc ứng dụng hệ thống thông tin kế toán quản trị” nhằm đề xuất những giải pháp cho các vấn đề để áp dụng thành công hệ thống thông tin KTQT trong DN, theo đó đã tìm thấy mối liên hệ của các nhân tố: cam kết quản lý, thẩm quyền, quan điểm của người sử dụng đến nhân tố chất lượng của thông tin kế toán.
Nhà nghiên cứu đã xây dựng hai giả thuyết: cam kết quản lý có ảnh hưởng đến việc áp dụng hệ thống thông tin KTQT trong DN và thẩm quyền, quan điểm của người sử dụng có ảnh hưởng đến việc áp dụng hệ thống thông tin KTQT. Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng, Deni Iskandar đã khẳng định nhân tố cam kết quản lý và thẩm quyền, quan điểm của nhà quản trị có ảnh hưởng đáng kể đến việc áp dụng hệ thống thông tin KTQT trong các DN. [26] - Nghiên cứu của tác giả Xiong Xiaoyan, Wei Wenxiu (2020) với công trình “Nghiên cứu ứng dụng kế toán quản trị doanh nghiệp trong thời đại kế toán thông minh”, Nhóm tác giả cho biết, trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của thời đại thông tin, vị trí, vai trò của KTQT trong quản lý DN trở nên ngày càng nổi bật. Trong kỷ nguyên kế toán thông minh, KTQT DN mở ra những cơ hội phát triển mới.
Trong thời buổi công nghệ thông tin không ngừng phong phú, đa dạng thì công tác quản lý kế toán tài chính DN đang đứng trước một nhiệm vụ quan trọng thay đổi về tính chất công việc. Kế toán tài chính truyền thống phải chuyển đổi sang quản lý kế toán, từng bước hình thành hệ thống khung KTQT, nâng cao tính sáng tạo của giá trị DN, để từng bước thay đổi tình trạng tương đối lạc hậu của KTQT, có lợi cho sự phát triển bền vững lâu dài của DN. Bên cạnh nền tảng công tác kế toán vững chắc, nhân sự tài chính cũng nên tìm hiểu tích hợp tài chính và thuế của ngành ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Nghiên cứu này giải thích tình trạng ứng dụng của KTQT trong DN, hiểu được vai trò quan trọng của KTQT trong sự phát triển của các DN, và đưa ra các giải pháp để ứng phó với sự phát triển của các ứng dụng kế toán với nền tảng của kỷ nguyên kế toán thông minh.
[33] - Công trình nghiên cứu của Tonatiuh Najera Ruiz and Pablo Collazzo (2020), “Vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ”. Nghiên cứu này được 9 thực hiện với mục tiêu khám phá xem liệu rằng các công ty siêu nhỏ và nhỏ có áp dụng KTQT hay không và bằng kỹ thuật kế toán nào (MA). Nghiên cứu này dựa trên 36 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với vi mô và các chủ sở hữu/người điều hành DN nhỏ ở Mexico. Phân tích nội dung được sử dụng để xác định cách các DN này sử dụng MA công cụ.
Kết quả các công ty siêu nhỏ và nhỏ luôn sử dụng các công cụ MA. Hầu hết trong số họ có một số loại kế hoạch, thiết lập mục tiêu, có một hệ thống chi phí - ngay cả khi việc lập ngân sách là bất thường - và sử dụng một hoặc hai số liệu để giám sát hiệu suất. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu thăm dò với giới hạn và không ngẫu nhiên vật mẫu. Chỉ có một số lượng hạn chế các công cụ MA được nghiên cứu.
Điều này được cho là quan trọng bởi vì các DN này sử dụng các kỹ thuật này theo cách khác với cách tiếp cận truyền thống được sử dụng trong quy mô lớn hơn là tập đoàn. Một hàm ý có liên quan xuất hiện từ những phát hiện, như một đóng góp cho thực tiễn là cần đưa MA cho các DN siêu nhỏ và nhỏ vào chương trình đào tạo và giáo trình chính thức.2 Các nghiên cứu ở trong nước Tác giả xin trình bày một số công trình nghiên cứu được thực hiện trong nước có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn: - Tác giả Đào Khánh Trí (2015) với luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT cho các DN vừa và nhỏ tại TP. Hồ Chí Minh”. Nghiên cứu này tiến hành thực hiện trên tổng thể mẫu là các DNNVV tại TP.
Hồ Chí Minh, tác giả thực hiện lấy mẫu là 200 DNNVV dựa vào thông tin được cung cấp từ Trung tâm hỗ trợ DN vừa và nhỏ khu vực phía Nam thông qua bảng câu hỏi khảo sát bằng thư điện tử.