phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo chủ yếu, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về hình phạt chính không tƣớc tự do. Chƣơng 2: Thực trạng các quy định của BLHS 1999 về hình phạt chính không tƣớc tự do và thực tiễn áp dụng các quy phạm này tại Hà Giang giai đoạn 2009-2014. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các hình phạt chính không tƣớc tự do. - Danh mục Tài liệu tham khảo.
9 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƢỚC TỰ DO 1. VÀI NÉT VỀ KHÁI NIỆM, CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ MỤC ĐÍCH CỦA HÌNH PHẠT 1. Khái niệm hình phạt Tội phạm là một hiện tuợng xã hội tiêu cực có tính nguy hiểm cao cho xã hội, mang tính lịch sử và bản chất giai cấp sâu sắc. Đấu tranh với tội phạm là nhiệm vụ tất yếu khách quan nhằm bảo vệ và duy trì điều kiện tồn tại của giai cấp thống trị, của nhà nƣớc trong bất kì một xã hội nào.
Hình phạt đƣợc coi là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc, là công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Mác đã từng viết: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho lợi ích giai cấp thống trị trong một xã hội nhất định” và “Hình phạt chẳng qua là thủ đoạn tự vệ của xã hội với những hành vi xâm phạm những điều kiện tồn tại của xã hội đó” [Các Mác, F. Toàn tập, tập 8, trang 531]. Trong lịch sử luật hình sự Việt Nam, chế định hình phạt cùng chế định tội phạm là những chế định quan trọng nhất của luật hình sự Việt Nam.
Có rất nhiều quan điểm khoa học xung quanh chế định hình phạt. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 cũng nhƣ trong các văn bản pháp luật hình sự trƣớc đó tuy chƣa có khái niệm pháp lý về hình phạt song trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ sở đào tạo có rất nhiều quan điểm nhìn chung là thống nhất về hình phạt. Có thể viện dẫn một vài quan điểm về hình phạt sau đây: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất quy định trong luật hình sự được Toà án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm nhằm trừng trị và cải tạo họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và 10 z chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [19,tr. “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Toà án quyết định trong bản án với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án”[65,tr.
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước do Toà án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích giáo dục cải tạo người phạm tội nhằm ngăn ngừa họ phạm tội mới”[34,tr. “Hình phạt là biện cưỡng chế Nhà nước được luật hình sự quy định và do Toà án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội, nhằm trừng trị, giáo dục họ cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”[26,tr. Bộ luật hình sự năm 1999 đƣợc Quốc Hội thông qua ngày 21/12/1999 tại kì họp thứ 6, khoá X có hiệu lực từ ngày 1/7/2000, lần đầu tiên đã đƣa ra khái niệm pháp lý chính thức của hình phạt tại Điều 26: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước đoạt hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong BLHS và do Toà án quyết định”[41,tr.
Từ các quan niệm đã nêu về khái niệm hình phạt trong khoa học Luật hình sự, có thể định nghĩa khái niệm khoa học về hình phạt nhƣ sau: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về hình sự của Nhà nước do Tòa án có thẩm quyền quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật nhằm tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự. Một số đặc điểm cơ bản của hình phạt 11 z Ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của hình phạt từ định nghĩa khoa học của khái niệm hình phạt nhƣ sau: Thứ nhất: Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất về hình sự so với tất cả các biện pháp cƣỡng chế về hình sự khác của Nhà nƣớc. So với các biện pháp cƣỡng chế khác (biện pháp cƣỡng chế hành chính, biện pháp cƣỡng chế tố tụng hình sự, các biện pháp tƣ pháp khác trong luật hình sự) thì hình phạt hạn chế hoặc tƣớc bỏ những quyền và lợi ích thiết thân của ngƣời phạm tội nhƣ quyền sống (hình phạt tử hình), quyền tự do (hình phạt tù có thời hạn), quyền sở hữu (hình phạt tiền). Ngoài nội dung trên, hình phạt bao giờ cũng để lại cho ngƣời bị kết án hậu quả pháp lý là án tích trong một thời hạn nhất định theo quy định của BLHS.
Án tích là đặc điểm nhân thân bất lợi cho ngƣời phạm tội trong đời sống xã hội, trong khi ngƣời phạm tội có hành vi vi phạm pháp luật. Án tích có thể bị coi là tình tiết định tội (khoản 1 Điều 143 BLHS năm 1999), tình tiết định khung tăng nặng (điểm c khoản 2 Điều 143 BLHS năm 1999), tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS). Thứ hai: Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế đƣợc áp dụng theo trình tự riêng biệt. Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nƣớc áp dụng hình phạt cho ngƣời phạm tội.
Tòa án là một thiết chế đặc biệt trong Nhà nƣớc, đƣợc Nhà nƣớc trao cho thẩm quyền đặc biệt, đó là thẩm quyền xét xử. Chỉ có Tòa án mới có quyền nhân danh Nhà nƣớc quyết định một ngƣời có phải chịu hình phạt hay không. Thẩm quyền xét xử của Tòa án là thẩm quyền hiến định, Điều 102 Hiến pháp năm 2013 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ "Tòa án là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" [46,tr. Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cũng xác định "Tòa án nhân danh nước CHXHCN Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính" [45,tr.
12 z Thứ ba: Hình phạt chỉ có thể đuợc áp dụng với ngƣời có hành vi phạm tội, điểm này đã thể hiện rõ tính pháp chế của luật hình sự Việt Nam. Mọi công dân đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định của pháp luật. Điều 2 BLHS 1999: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự”[44,tr.47] và trong toàn bộ phần riêng BLHS đều quy định TNHS của cá nhân, hình phạt chỉ đƣợc áp dụng đối với riêng bản thân ngƣời bị kết án chứ không đƣợc phép áp dụng đối với tập thể, với các thành viên trong gia đình hoặc với những ngƣời thân thích khác của ngƣời phạm tội. Nhƣ vậy Luật hình sự Việt Nam không cho phép ngƣời khác chịu hình phạt thay cho ngƣời phạm tội.
Thứ tư: Hình phạt đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự. Trong BLHS năm 1999 hình phạt đƣợc quy định ở phần chung và phần các tội phạm. Phần chung quy định về khái niệm, mục đích, hệ thống hình phạt. Phần các tội phạm quy định các loại và mức hình phạt cho từng tội phạm cụ thể.
Việc quy định hình phạt trong BLHS đảm bảo tính nghiêm minh, tính hợp pháp, và thống nhất cho việc quyết định hình phạt trên thực tế. Những đặc điểm cơ bản trên đây giúp ta phân biệt hình phạt với các biện pháp cƣỡng chế khác của nhà nƣớc nhƣ các biện pháp cƣỡng chế hành chính (cảnh cáo, phạt tiền); cƣỡng chế trong luật tố tụng hình sự (bắt ngƣời, tạm giam, tạm giữ.); các biện pháp tƣ pháp khác trong luật hình sự và góp phần làm rõ bản chất của hình phạt. Mục đích của hình phạt Hình phạt tuy không ảnh hƣởng trực tiếp đến những điều kiện và nguyên nhân làm phát sinh tội phạm. Nhƣng hình phạt với nội dung hạn chế hoặc tƣớc bỏ những quyền và lợi ích của ngƣời phạm tội có những ảnh hƣởng, những tác động nhất định đối với ngƣời phạm tội cũng nhƣ những nguời khác trong xã hội theo những khuynh hƣớng khác nhau.
Những khuynh hƣớng tác động đó chính là mục đích của hình phạt. 13 z Mục đích của hình phạt sẽ quyết định việc quy định từng loại hình phạt nói riêng và hệ thống hình phạt nói chung, quyết định những quy định về hình phạt trong luật và việc áp dụng hình phạt trong thực tế. Chính vì vậy mục đích của hình phạt là vấn đề có ý nghĩa không chỉ về mặt lí luận mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong thực tiễn. Bộ luật Hình sự 1985 tuy chƣa đƣa ra đƣợc khái niệm pháp lý về hình phạt Song mục đích hình phạt thì đã đƣợc quy phạm hoá tại Điều 20.
Trong BLHS năm 1999 mục đích hình phạt đƣợc quy định tại Điều 27: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”. Tuy mục đích hình phạt đã đƣợc quy định trong luật hiện hành nhƣng trong nhận thức của các nhà nghiên cứu vẫn chƣa đạt đƣợc sự thống nhất. Một số học giả trong các công trình nghiên cứu của mình cho rằng: “Trừng trị là nội dung, là thuộc tính, là phương thức thực hiện hình phạt, trừng trị là tiền đề quan trọng để đạt được mục đích phòng ngừa tội phạm” [34,tr.
Các nhà khoa học theo trƣờng phái này chỉ thừa nhận giáo dục, phòng ngừa là mục đích của hình phạt còn trừng trị chỉ là tiền đề để đạt đƣợc mục đích đó mà thôi. Nhƣng trong giáo trình của một số trƣờng đại học, của nhiều cơ sở đào tạo khác nhau các tác giả đều thống nhất hình phạt trong luật hình sự có mục đích trừng trị.