CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Vài nét về vùng đất và con người Nam Bộ 1. Lược sử vùng đất Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài của dận tộc, lãnh thổ và biên giới của nước Việt Nam ta ngày càng được củng cố và từ lâu đã trở thành thực thể thống nhất từ Bắc chí Nam, trong đó có vùng đất Nam Bộ. Với truyền thống kiên cường, bất khuất và tinh thần lao động cần cù của cả dân tộc, các thế hệ người Việt Nam đã viết nên những trang sử hào hùng về quá trình dựng nước và giữ nước của người dân Nam Bộ, góp phần làm nên những thành công rực rỡ cho nước nhà.
Mỗi một khu vực, một quốc gia, vùng miền… đều có lịch sử hình thành và phát triển riêng. Vùng đất Nam Bộ của Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Tuy là một vùng đất mới, hình thành sau, nhưng với sự phát triển rất nhanh thì Nam Bộ đã dần khẳng định được vai trò của mình trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, khoa học- kĩ thuật, giáo dục, y tế, cho đến văn hóa. Để hiểu thêm về vùng đất Nam Bộ, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về lịch sử hình thành của nó.
Theo Lược sử vùng đất Nam Bộ của GS. TSKH Vũ Minh Giang (Chủ biên), từ thế kỉ I đến thế kỉ VII thì địa bàn Nam Bộ ngày nay thuộc Vương quốc Phù Nam và cư dân Phù Nam – chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo. Phù Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và có quan hệ mật thiết với nền văn hóa Mã Lai - Đa đảo [10, tr. Phù Nam là một quốc gia ven biển mà trung tâm là vùng Nam Bộ ngày nay.
Cư dân của họ chủ yếu là người Mã Lai đa đảo, có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển. Vào thế kỉ V tại vùng nam Lào và Biển Hồ, một nhà nước mới được thành lập là Chân Lạp. Cư dân là người Môn cổ và Khmer cổ. Họ sinh sống chủ yếu bằng nghề nông.
Chân Lạp là một thuộc quốc của Phù Nam. Sau một thời kì phát triển rực rỡ, đến cuối thế kỉ thứ VI thì Vương quốc Phù Nam bắt đầu quá trình tan rã. Lợi dụng thời cơ hiếm có này, Chân Lạp đã tấn công Phù Nam và chiếm được một phần lãnh thổ - tương đương với vùng đất Nam Bộ 13 ngày nay. Sau khi chiếm xong, Chân Lạp đã đặt tên cho vùng đất mới này là Thủy Chân Lạp để phân biệt với Lục Chân Lạp – nơi hình thành nhà nước Chân Lạp sơ khai.
Tuy nhiên việc cai quản vùng đất mới này đối với Chân Lạp là vô vàng khó khăn bởi lúc bấy giờ dân số người Khmer rất ít mà quá trình khai khẩn lại cần nhiều thời gian và sức lực. Cuối cùng việc cai quản vùng đất Thủy Chân Lạp được giao lại cho vua và những người thuộc dòng dõi của Phù Nam đảm trách. Chân Lạp tiếp thu văn hóa Phù Nam và chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ giống như người Phù Nam. Lãnh thổ của Chân Lạp gồm hai phần – Lục Chân Lạp thuộc địa phận Campuchia và Thủy Chân Lạp thuộc địa phận Nam Bộ ngày nay.
Từ thế kỉ VIII đến thế kỉ XII, vùng đất Thủy Chân Lạp bị bỏ hoang, không có dấu vết của con người cư trú. Chu Đât Quan, một người Trung Quốc có dịp đến Chân Lạp vào những năm 1926-1927, đã mô tả vùng đất Nam Bộ như sau: “Từ chỗ vào Chân Bồ trở đi, hầu hết là rừng thấp cây rậm. Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm, cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau trong đó. Nhìn xa xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi.
Phải từ khoảng đầu thế kỉ XIII, một số ít người Khmer đến đây sống theo từng nhóm nhỏ thì nơi này mới bắt đầu có dấu vết của con người cư trú. Rồi đến thế kỉ XVI, XVII cư dân Việt mới từ Đàng Trong, sau đó từ miền Trung rồi miền Bắc vào lập nghiệp ngày một đông tại Nam Bộ. Như vậy, có thể kết luận người Việt đến Nam Bộ sau người Khmer vài thế kỉ [10, tr. Có nhiều người cho rằng: “Phù Nam và Chân Lạp thực chất là một”.
Đó là một ý kiến hoàn toàn sai, bởi Chân Lạp và Phù Nam là hai đất khác nhau, hai bộ phận dân cư khác nhau và hai nền văn hóa khác nhau. Nhắc đến lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ có hai mốc thời gian đáng nhớ, đó là: + Năm 1698, Chúa Nguyễn cử lễ Thành Hầu là Nguyễn Hữu Cảnh vào nam lập Phủ Gia Định, mở rộng đất đai được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ người dân lưu tán, thiết lập xã thôn, phường ấp, chia cắt đất ruộng, khai hoang,… [10, tr. 14 + Năm 1757, Việt Nam hình thành đến Mũi Cà Mau và được xác lập chính thức chủ quyền. Điều này được công nhận qua nhiều văn bản có giá trị pháp lí quốc tế như: • Hiệp ước: 12/1845, 1846, 1862, 1874.
• Hiệp định : Giơ-ne-vơ – 1954 , Paris – 1973. Và công khai hoang vùng đất Nam Bộ lớn nhất thuộc về người Việt chúng ta… Nam Bộ đã được người Việt và các dân tộc bao đời khai phá, khẩn hoang, xây dựng nên bằng mồ hôi, nước mắt và cả xương máu. Đây không chỉ là vùng đất thiêng liêng của tổ quốc, thuộc chủ quyền của đất nước mà còn là cả một lịch sử hào hùng. Tác giả Nguyễn Chí Bền đã nhận xét: “Nam Bộ là vùng đất mới, với lịch sử hơn 300 năm trong lịch sử 4.000 năm của dân tộc.
Các tộc người đang sinh sống ở đây như Việt, Hoa, Chăm, Khmer v.v…, đều không phải là cư dân bản địa, nghĩa là tổ tiên họ từng ở một vùng đất khác” [15, tr. Chính vì điều kiện lịch sử hình thành dân cư khác biệt đã tạo nên những điểm khác nhau về đặc trưng văn hóa giữa người Việt đồng bằng Bắc bộ và người Việt vùng đồng bằng Nam Bộ. Sự khác biệt đó được hình từ 2 yếu tố cơ bản: tác động của cảnh quan môi trường sống mới, cộng đồng dân cư mới hình thành mang tính đa văn hóa. Là một bộ phận người Việt đồng bằng Nam Bộ, người Việt vùng U Minh có những đặc tính chung và cũng có những đặc điểm riêng do chịu tác động của môi trường sinh thái nơi sinh sống.
Chính vì có sự khác biệt đó đã hình thành cho những lưu dân Nam Bộ những nét tính cách khác biệt. Người Nam Bộ có tính hiếu khách, tính bộc trực mạnh mẽ, hào phóng và đôn hậu. Ngoài ra ở người Nam Bộ còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như: tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu, bao dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực. Đặc biệt, phụ nữ miền Nam rất đỗi vị tha, dịu dàng mà lại khéo tay, chìu chuộng nhưng đáng quý nhất là sự hy sinh cho chồng con, cho quê hương đất nước.
Điều đó được chứng minh suốt quá trình hơn 300 năm lịch sử của Nam Bộ. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của vùng đất Nam Bộ Nam Bộ hiện nay nếu tính theo độ cao của mặt biển thì có hai vùng: vùng cao và vùng thấp. Còn tính theo hai dòng sông lớn chảy tràn vào, lại có khu vực Đông 15 Nam Bộ - trên sông Đồng Nai và khu vực Tây Nam Bộ gồm toàn bộ lưu vực sông Cửu Long. Lưng dựa vào những đồng bằng nhỏ hẹp và vùng núi non cực Nam Trung Bộ, mặt ngạo nghễ hướng ra biển Đông, mảnh đất này cứ lấn dần ra biển.
Vùng đất Nam Bộ cứ thế mà tồn tại với bao tác động của thời tiết, khí hậu để kiến tạo nên địa hình vùng đất với những nét đặc trưng riêng biệt của nó. Trước khi người Việt đặt chân đến đây, vùng đất Nam Bộ hãy còn là một nơi vô cùng hoang vu, hiểm trở. Sử Trung Quốc còn ghi lại những ấn tượng của một vị quan đời Nguyên – Châu Đạt Quan trong “Chân Lạp Phong thổ kí” để hình dung ra Nam Bộ ngày nào. Từ góc nhìn của những chuyến thuyền rong ruổi ngược Cửu Long Giang, Nam Bộ hiện ra với “những bụi mây dài, cây to, cát vàng, lau sậy trắng” ở hai bên bờ.
Những chòm cây rậm rạp của những khu rừng thấp làm chổ ấn nấp lí tưởng cho chim chóc và muông thú. Cảnh tượng hoang dã ấy còn được chấm phá, điểm xuyết thêm hình ảnh của hàng ngàn con trâu rừng họp thành từng bầy trên những cánh đồng cỏ bạt ngàn. Khác với vùng đất cao ráo, dễ làm ăn, nguồn lợi nhiều tôm cá ở biển hồ vùng thượng lưu, Nam Bộ thưở ấy còn hoang vu lắm. Không mỏ vàng, mỏ bạc, không nguồn khoáng sản, vùng đất cứ thế phơi ra sự hoang sơ, thâm u, nê địa của mình.
Những giồng đất cao ráo hiếm hoi ở cánh sông Tiền thì phần lớn đất đai vẫn còn là rừng rậm với đầy thú dữ. Những vùng trũng gần sông Hậu thì quanh năm sình lầy bùn đọng làm muỗi mòng, rắn rết sanh sôi, nảy nở. Nam Bộ có vùng toàn nước mặn nước phèn, có vùng thì tràn trề nước ngọt, nơi ngập lụt, sình lầy quanh năm suốt tháng, nơi cao ráo màu mỡ phì nhiêu, chỗ có thể canh tác ruộng vườn, chỗ thì toàn cỏ lát, cỏ năn,. Từ đó có thể thấy được sự khắc nghiệt, hoang vu của vùng đất mới qua câu chuyện kể hằng ngày của những người dân Nam Bộ.
Vẻ hoang sơ, khắc nghiệt ấy cũng được thể hiện khá đậm nét trong những bức tranh sinh động về sấu và cọp trong truyện kể dân gian nơi này. 16 Khí hậu, thời tiết ở Nam Bộ cũng khác so với vùng Bắc Bộ. Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức có ghi chép: cuối mùa xuân mới bắt đầu mưa, đến hè là mùa mưa, thu hay mưa rào, nhiều khi mưa to như trút nước nhưng chỉ một, hai giờ thôi, ráo tạnh ngay, cũng có khi mưa dầm một hai ngày mà không có cái khổ liên miên đến hàng tuần, hàng tháng”. Thiên tai tuy không hay xảy ra thường xuyên nhưng cũng xảy ra nhiều năm và nhiều vùng làm cho đời sống của những lưu dân nơi đây vô cùng khốn khổ.
Ngập lụt, hạn hán thì đến theo chu kì. Nắng có lúc đổ sao, mưa có khi thúi đất. Nên đôi khi sau những lúc nắng khô ruộng nẻ thì mưa giông kèm sấm chớp dữ dội. Thiên nhiên nơi đây tha hồ “giương oai giễu võ”.
Cùng với bước chân khai hoang mở đất, từ nơi vùng cao đến vùng trũng thấp đều được con người chinh phục.