phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận đƣợc cơ cấu thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý thuyết bồi thƣờng thiệt hại do xâm phạm quyền đối với giống cây trồng Chƣơng 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thƣờng thiệt hại do xâm phạm quyền đối với giống cây trồng Chƣơng 3: Thực tiễn bồi thƣờng thiệt hại do xâm phạm quyền đối với giống cây trồng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 6 CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG 1. Khái niệm bồi thƣờng thiệt hại do xâm phạm quyền đối với giống cây trồng 1. Khái niệm quyền đối với giống cây trồng Giống cây trồng (“GCT”) là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết đƣợc bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt đƣợc với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền đƣợc. Nhƣ vậy, khái niệm về GCT của pháp luật Việt Nam có nhiều điểm tƣơng đồng với khái niệm về GCT theo Công ƣớc quốc tế về bảo hộ GCT mới (“ Công ƣớc UPOV”)1.
Do đó, việc xác định quyền đối với GCT và các biện pháp bảo vệ GCT sẽ đƣợc giải quyết dễ dàng hơn khi có phát sinh tranh chấp trong và ngoài nƣớc. Quyền đối với GCT là các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ bằng bảo hộ GCT do việc chọn tạo, phát hiện và phát triển, sử dụng, chuyển giao cho ngƣời khác, để thừa kế, thừa kế và quyền đƣợc bảo vệ khi quyền của tác giả/chủ bằng bảo hộ GCT bị xâm phạm. Có thể hiểu, quyền đối với GCT là quyền của cá nhân, tổ chức đối với GCT do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc đƣợc hƣởng quyền sở hữu 2. Trong đó, chọn tạo GCT là quá trình lai hữu tính, gây đột biến hoặc áp dụng phƣơng pháp khác để tạo các biến dị nhân tạo và chọn lọc để tìm ra các biến dị phù hợp để sản xuất.
Phát hiện GCT là hoạt động chọn lọc để tìm ra các biến dị tự nhiên có sẵn trong quần thể một GCT hoặc tìm ra nguồn gen mới có sẵn trong tự nhiên. Phát triển GCT là quá trình nhân giống và đánh giá để chọn ra biến dị hoặc nguồn gen phù hợp với yêu cầu của sản xuất. Phát hiện và phát triển GCT phải đƣợc tồn tại 1 Điều 1. GCT là nhóm cây trong một đơn vị phân loại thực vật ở cấp thấp nhất đƣợc biết tới cho đến nay và nhóm này, bất luận các điều kiện cấp quyền tác giả có đƣợc đáp ứng đầy đủ hay không, có thể: - Đƣợc xác định dựa trên biểu hiện của các tính trạng do một kiểu gen cụ thể hay một tổ hợp các kiểu gen quy định; - Đƣợc phân biệt với bất cứ nhóm cây nào khác dựa trên biểu hiện của ít nhất một trong số các tính trạng nêu trên; và - Đƣợc coi là một đơn vị thực vật phù hợp cho việc nhân giống mà các tính trạng của nó không bị thay đổi.
2 khoản 5 Điều 4 Luật SHTT và Điều 3 Thông tƣ 16/2013/TT-BNNPTNT. 7 cùng nhau, nếu chỉ có một trong hai giai đoạn này thì tác giả/chủ bằng bảo hộ GCT sẽ không có quyền đối với GCT đó. Bảo vệ GCT có vai trò vô cùng quan trọng, vì nó chính là đang bảo vệ quyền của các tác giả/chủ bằng bảo hộ GCT. Họ là những ngƣời đã dành thời gian, công sức, trí tuệ và tiền bạc vào việc tạo ra GCT mới.
Từ đó, quyền đối với GCT là quyền sở hữu tài sản đƣợc hình thành từ kết quả của quá trình chọn và tạo GCT. Chính vì vậy, chủ sở hữu có các quyền đối với tài sản của mình3. Dựa trên cơ sở thực hiện quyền của chủ sở hữu phát sinh các quan hệ đối với các chủ thể khác qua việc khai thác GCT, pháp luật điều chỉnh quan hệ này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho chủ thể quyền. Quyền đối với GCT của chủ thể quyền đƣợc xác lập thông qua quyết định cấp “Bằng bảo hộ GCT” của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền.
Có thể thấy, đây là một quyền năng của các cá nhân, tổ chức đƣợc nhà nƣớc trao cho vì đã có công trong việc chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hay đƣợc hƣởng quyền sở hữu GCT đó từ tổ chức, cá nhân khác thông qua hợp đồng chuyển giao/chuyển nhƣợng quyền đối với GCT. Các cá nhân, tổ chức này là cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nƣớc ngoài thuộc nƣớc có ký kết với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thỏa thuận về bảo hộ GCT; cá nhân, tổ chức nƣớc ngoài có địa chỉ thƣờng trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh GCT tại Việt Nam. Khái niệm về quyền đối với GCT tại Việt Nam nhìn chung có nhiều điểm tƣơng đồng với các quốc gia khác trên thế giới. Tại New Zealand, quyền đối với GCT đƣợc định nghĩa là quyền sở hữu trí tuệ (“SHTT”) đƣợc thiết kế để khuyến khích mọi ngƣời phát triển và phổ biến các GCT mới.
Nó cấp cho các nhà tạo giống và nhà phát triển cây trồng độc quyền thƣơng mại hóa vật liệu nhân giống (ví dụ: bào tử, hạt giống hoặc cành giâm) của các giống mới mà họ phát triển trong một khoảng thời gian nhất định4. Tại một số quốc gia, thuật ngữ quyền đối với GCT đƣợc sử dụng bằng thuật ngữ quyền của nhà tạo GCT - Plant breeders' rights (“PBR”). Ví dụ, ở Canada, quyền của nhà tạo GCT đƣợc định nghĩa là một hình thức bảo hộ SHTT cho phép các nhà tạo giống bảo vệ các GCT mới, tƣơng tự nhƣ 3 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nxb. Công an Nhân dân, tr.
4 Ministry of Business, Innovation and Employment of New Zealand, “Review of the Plant Variety Rights Act: What are Plant Variety Rights?”, https://www.nz/dmsdocument/3701-information-sheet- what-are-plant-variety-rights, truy cập ngày 15/05/2022. 8 cách một sáng chế có thể đƣợc bảo hộ bằng bằng sáng chế. Khi chứng chỉ PBR đƣợc cấp cho một giống, chủ sở hữu có quyền bảo vệ hợp pháp trên thị trƣờng và có thể yêu cầu bồi thƣờng nếu giống đƣợc sử dụng mà không đƣợc phép5. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng Xâm phạm quyền SHTT là bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến quyền đã đƣợc pháp luật bảo hộ của tác giả/chủ sở hữu của các đối tƣợng quyền SHTT.
Việc sử dụng những quyền độc quyền của tác giả/chủ sở hữu quyền SHTT mà không đƣợc phép của họ chính là hành vi trái pháp luật. Nhƣ vậy, hành vi xâm phạm quyền đối với GCT đƣợc hiểu là việc sử dụng GCT đã đƣợc bảo vệ bởi Luật SHTT một cách trái pháp luật, xâm phạm vào quyền độc quyền của tác giả/chủ bằng bảo hộ GCT. Chủ bằng bảo hộ có quyền tự mình sử dụng, khai thác các quyền về tài sản đối với GCT đã đƣợc bảo hộ trong suốt thời hạn bảo hộ hoặc cho phép ngƣời khác sử dụng các quyền đó. Đây là quyền hợp pháp đƣợc pháp luật thừa nhận và bảo vệ6.
Chính vì vậy, nếu có bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng những quyền năng này mà không đƣợc sự cho phép của chủ bằng bảo hộ GCT là hành vi xâm phạm quyền đối với GCT (trừ các trƣờng hợp hạn chế quyền của chủ bằng bảo hộ GCT theo quy định pháp luật) và sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Khái niệm trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại Chế định bồi thƣờng thiệt hại (“BTTH”) đã xuất hiện từ rất lâu và trở thành chế định không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Trách nhiệm BTTH là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự của các nƣớc nói chung và của Việt Nam nói riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho những ngƣời bị thiệt hại từ hành vi vi phạm nghĩa vụ của chủ thể khác 7. Trách nhiệm BTTH theo định nghĩa của Từ điển Luật học8 đƣợc hiểu: là hình thức trách 5 Innovation, Science and Economic Development Canada, “Plant breeders' rights”, https://www.ca/eic/site/cipointernet- internetopic.nsf/vwapj/CIPOCS_1838_factsheet_EN_VF.pdf/$FILE/CIPOCS_1838_factsheet_EN_VF.pdf, truy cập ngày 15/05/2022.
6 Trƣờng Đại học Luật TP.HCM (2020), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Chủ biên: Nguyễn Hồ Bích Hằng và Nguyễn Xuân Quang Nxb. Hồng Đức, tr. 7 Đinh Thị Mai Phƣơng, Về Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tƣ pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.
8 Bộ Tƣ pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa và Nxb. 9 nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại. Nhƣ vậy, trách nhiệm BTTH hƣớng tới hai mục tiêu chính, chính là buộc ngƣời gây thiệt hại chịu trách nhiệm trƣớc những hậu quả đã gây ra và bù đắp một phần tổn thất cho ngƣời bị thiệt hại.
Theo quy định tại Điều 202 Luật SHTT, BTTH là một trong những biện pháp dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời bị thiệt hại và đƣợc xem biện pháp dân sự bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể 9. Trách nhiệm BTTH đƣợc chia thành trách nhiệm BTTH về vật chất và trách nhiệm BTTH về tinh thần dựa vào những lợi ích, cũng nhƣ thiệt hại đã xảy ra. Trách nhiệm BTTH vật chất do xâm phạm quyền SHTT đƣợc xem là việc gánh chịu những hậu quả bất lợi đã gây ra cho chủ sở hữu hoặc ngƣời đƣợc nhận quyền từ chủ sở hữu những thiệt hại vật chất, thƣờng là những thiệt hại có thể trị giá đƣợc bằng tiền. Bên cạnh đó, hành vi xâm phạm quyền SHTT còn có thể gây ra những thiệt hại về tinh thần, điển hình là những tổn thất về danh tiếng, cũng nhƣ uy tín của các tác giả đƣợc quy định tại điểm b khoản 1 Điều 204 Luật SHTT.
Nhƣ vậy, trách nhiệm BTTH theo quan niệm pháp lý của Việt Nam đƣợc hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự mang tính tài sản áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại 10.