chương 1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng là một loại trách nhiệm có ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã hội sâu sắc: Thứ nhất, trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội đều được Nhà nước và pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Đó có thể là lợi ích vật chất, thể hiện ở các quyền tài sảnnhưng cũng có thể là lợi ích tinh thần, thể hiện ở các quyền nhân thân. Thông qua việc tìm hiểu chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm, nhân phẩm, uy tín 16 của cá nhân bên cạnh đó là chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quan, khái quát nhất về các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này cũng như hiểu rõ hơn được vai trò, tầm quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các quan hệ xã hội khác nhau.
Thứ hai, thông qua việc buộc một chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả mà hành vi đó mang lại, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng góp phần đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao tính trách nhiệm của mỗi người trong xã hội, phù hợp với mục tiêu mà pháp luật đã đề ra. Thứ ba, thông qua chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cùng với việc vận dụng chế định này để giải quyết các vụ việc dân sự liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân trong thực tế sẽ góp phần tuyên truyền và giáo dục pháp luật, răn đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, gây thiệt hại trái pháp luật nói riêng bằng những biện pháp chế tài nghiêm khắc đánh thẳng vào kinh tế. Từ đó, ý thức pháp luật của người dân sẽ ngày một nâng cao. 17 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN CỦA CÁ NHÂN.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những căn cứ do pháp luật quy định từ trước. Bất kỳ chủ thể nào thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định thì trách nhiệm bồi thường mới phát sinh. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dư, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng là một loại trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đó phát sinh khi và chỉ khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định.
Pháp luật dân sự Việt Nam không quy định cụ thể căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân mà chỉ quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung. Tuy nhiên, do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là một nội dung trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vì vậy, các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng được coi là các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Qua nghiên cứu pháp luật của một số nước về vấn đề căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại có sự khác nhau.
Ví dụ: Cộng hòa Pháp, khi xem xét căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường phải có ba điều kiện là: có thiệt hại xảy ra; có một sự kiện (sự kiện cố ý hoặc không cố ý); có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và sự kiện. Ở Liên bang Xô Viết cũ, việc xác định trách nhiệm bồi thường dân sự chỉ phát sinh khi có các điều kiện sau: có xử sự bất hợp pháp của đương sự; có mối quan hệ giữa xử sự bất hợp pháp và hậu quả xảy ra; có lỗi của đương sự. Còn ở Nhật Bản, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại 18 căn cứ vào rất nhiều yếu tố, bao gồm: có lỗi cố ý hay vô ý khi xảy ra thiệt hại; có năng lực trách nhiệm(có phân biệt giữa hành vi của người chưa thành niên và người ở trạng thái không có năng lực hành vi); tính trái pháp luật của hành vi khixâm phạm quyền và gây thiệt hại; phải phát sinh thiệt hại; có quan hệ nhân quả thực tế giữa hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại và người bị thiệt hại phải gánh chịu. Như vậy, ở các nước khác nhau, pháp luật cũng có sự quy định khác nhau về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, dù pháp luật ở mỗi nước có quy định như thế nào đi nữa thì cũng đều thống nhất ở một đặc điểm, đó là: hành vi, có lỗi, có thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Ở Việt Nam, việc xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại điều 307 (Trách nhiệm bồi thường thiệt hại), điều 604 (Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại) của Bộ luật dân sự 2005 và Điều 1 Phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo đó, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay nói cách khác chính là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được xác định gồm 04 điều kiện: - Có thiệt hại xảy ra. - Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại.
-Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. - Có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại. Có thiệt hại xảy ra. Thiệt hại là điều kiện tiên quyết, điều kiện quan trọng nhất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Hay nói cách khác, thiệt hại là một yếu tố cơ bản cấu thành nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách 19 nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng. Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại nếu thiệt hại đó là không thể khôi phục. Do đó, phải có thiệt hại thì mục đích của bồi thường mới đạt được. Khoản 1 điều 307 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần”.
Theo Luật dân sự Việt Nam thì thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. Tổn thất thực tế được đề cập ở đây là sự giảm sút, mất mát về lợi ích vật chất, tinh thần hay những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu. Về ý nghĩa pháp lý và xã hội, thiệt hại còn ảnh hưởng đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân. Chính những ý nghĩa này đã lý giải vì sao thiệt hại lại được coi là tiền đề quan trọng có tính chất bắt buộc để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Song vấn đề đặt ra ở đây là tính chất của thiệt hại như thế nào mới phát sinh trách nhiệm bồi thường. Chính vì thế, điều kiện đầu tiên khi đánh giá thiệt hại để làm cơ sở quy định trách nhiệm bồi thường đó là phải xác định được những thiệt hại khách quan chứ không phải là những thiệt hại theo suy diễn chủ quan, nhất là những thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. Bởi đó là những thiệt hại về các quyền nhân thân, rất khó xác định những tổn thất thành tiền một cách chính xác tuyệt đối. Pháp luật dân sự nói chung, chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng là những vấn đề rất nhạy cảm và vô cùng phức tạp, bên cạnh những thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức chung để quy ra tiền áp dụng cho các trường hợp.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với những người làm công tác giám định chuyên 20 môn và những người làm công tác áp dụng pháp luật phải thực sự công tâm, khách quan, đánh giá đúng mức độ thiệt hại xảy ra và áp dụng các quy phạm pháp luật để giải quyết vào các vụ án cụ thể. Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân thì hành vi gây thiệt hại được hiểu là hành vi vi phạm một quy định nào đó của pháp luật. Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật là hành vi gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Hành vi trái pháp luật đó có thể do pháp luật cấm thực hiện hoặc yêu cầu thực hiện nhưng chủ thể không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng thực hiện không đúng, không đầy đủ nên đã gây thiệt hại. Nếu hành vi đó được thực hiện mà pháp luật cho phép thực hiện hoặc không được thực hiện mà pháp luật không bắt buộc phải thực hiện thì hành vi đó không phải là hành vi trái pháp luật và người thực hiện hoặc không thực hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, kể cả trong trường hợp có thiệt hại thực tế xảy ra. Hình thức biểu hiện bên ngoài của hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thông thường thể hiện dưới dạng hành động. Hành vi đó là hành vi có ý thức và có ý chí.
Nói cách khác không thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại nào mà không được ý thức kiểm soát hay không được ý chí của chủ thể điều khiển.