Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. Khái niệm bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Định nghĩa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Thuật ngữ “Bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất đã được đề cập từ rất sớm thông qua Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, tại Chương 2 có nội dung “Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng” và chi tiết việc bồi thường được quy định từ Điều 6 đến Điều 10 của nghị định. Tuy nhiên, khi LĐĐ năm 1987 ra đời, cùng với sự thay đổi trong tư duy của các nhà làm luật đã thay đổi thuật ngữ “ Bồi thường” bằng thuật ngữ “ Đền bù”.
Sau khi LĐĐ năm 1993 ra đời lại sử dụng thuật ngữ “Đền bù thiệt hại” lại nhưng tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LĐĐ năm 2001, tại Điều 1, Khoản 9 (sửa đổi, bổ sung Điều 27, LĐĐ năm 1993, thuật ngữ “Bồi thường” được sử dụng trở lại và thay thế thuật ngữ “Đền bù”. Kể từ thời điểm LĐĐ năm 2003 ra đời cho đến nay thì thuật ngữ “Bồi thường” vẫn được sử dụng trong Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Khoản 12, Điều 3, LĐĐ năm 2013 giải thích: Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho NSDĐ. Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất thì phải áp dụng các quy định về bồi thường được quy định trong LĐĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nó chính là cách giải quyết mà Nhà nước đưa ra nhằm cân đối lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với người bị thu hồi đất và nhà đầu tư. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo quy định của Nhà nước về giá đất; Về điều kiện được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Về nguyên tắc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Một trong những nguyên nhân kiến luật đất đai hiện hành bỏ thuật ngữ “ Đền bù” và sử dụng thuật ngữ “ Bồi thường” vì đền bù chỉ dừng ở việc bù lại những giá trị thực tế 7 bị mất đi của người bị thu hồi đất như giá trị quyền sử dụng đất, giá trị tài sản gắn liền trên đất trong khi đó hậu quả của việc thu hồi đất không chỉ dừng lại ở những thiệt hại như đền bù mà nó còn bao gồm các thiệt hại phi vật chất như tổn thất về tinh thần, thiệt hại do mất công việc ổn định, thiệt hại do giảm, hoặc mất thu nhập, thiệt hại do phải di chuyển chỗ ở. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của người bị thu hồi đất thì Nhà nước cần phải tính đến những thiệt hại này để bồi thường cho người bị thu hồi đất.
Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng hay bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có nhiều điểm khác nhau cơ bản so với bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Nhà nước thu hồi đất mặc dù có gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp cho người bị thu hồi đất nhưng những thiệt hại những hành vi thu hồi đất này lại được pháp luật cho phép, hầu hết những thiệt hại do thu hồi đất có thể nhìn thấy trước và được tính toán theo công thức nhất định. Còn bồi thường thiệt hại trong dân sự bắt buộc phải đảm bảo các yếu tố sau: Có lỗi của bên gây thiệt hại, lỗi này được coi là hành vi vi phạm pháp luật, không được pháp luật cho phép, có thiệt hại thực tế xảy ra, thiệt hại có mối quan hệ nhân quả với hành vi có lỗi. Có thể hiểu, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là trường hợp bồi thường đặc biệt, và khi pháp luật sử dụng thuật ngữ “Bồi thường” thay cho thuật ngữ “ Đền bù” còn nhằm mục đích tính đến các khoản hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất. Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi thường khác trong quá trình sử dụng đất của người sử dụng đất.
Theo khoản 12 Điều 3 LĐĐ năm 2013 quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Như vậy, giải thích trên chỉ rõ khi Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất (gọi là bồi thường) cho người bị thu hồi đất thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất, nhưng thực tế, trong quá trình sử dụng đất của NSDĐ còn phát sinh rất nhiều vấn đề bồi thường khác. Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi thường khác trong quá trình sử dụng đất của NSDĐ Tiêu chí Bồi thường khi Nhà nước Bồi thường khác trong quá trình phân thu hồi đất sử dụng đất của NSDĐ biệt Căn cứ LĐĐ năm 2013 và các văn LĐĐ năm 2013, Luật trách nhiệm pháp lý bản hướng dẫn thi hành. bồi thường của Nhà nước năm 2017, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Chủ thế - Nhà nước , chủ đầu tư Nhà nước , chủ đầu tư, cá nhân, tổ chịu + Nhà nước bồi thường khi chức khác trách Nhà nước chính là chủ đầu Nhà nước có trách nhiệm bồi thường nhiệm tư cho người bị thiệt hại trong trường bồi + Chủ đầu tư khác là người hợp người thi hành công vụ gây ra: thường bồi thường khi chủ đầu tư ví dụ: trường hợp cấp GCN sai đối thực hiện những dự án tượng, hay trong quá trình thi công thuộc các trường hợp được dự án do Nhà nước làm chủ đầu tư Nhà nước thu hồi như dự án gây thiệt hại cho NSDĐ liền kề. về phát triển kinh tế xã hội, - Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm vì lợi ích quốc gia công bồi thường: ví dụ: bà A thỏa thuận cộng. chuyển nhượng cho B 50m2 đất ở, B đã đặt cọc tuy nhiên hết thời hạn quy định trong hợp đồng đặt cọc, A vẫn không thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho B dẫn đến việc B không thực hiện việc chuyển nhượng với C được. Giá trị chênh lệch nếu thủ tục 9 chuyển nhượng giữa B với C là 2 tỷ đồng.
Do vậy, nếu B hoàn toàn không có lỗi dẫn đến không thể thực hiện hợp đồng đặt cọc, lỗi hoàn toàn thuộc về A và trường hợp hợp đồng đặt cọc có quy định thì ngoài việc trả lại số tiền đặt cọc, A phải có trách nhiệm bồi thường khoản tiền thiệt hại 2 tỷ cho B. Chủ thể Người bị thu hồi đất, tổ Chủ sử dụng đất là cá nhân, cơ quan, được bồi chức cá nhân khác có liên tổ chức. bị thiệt hại trong quá trình thường quan đến việc bồi thường sử dụng đất. khi Nhà nước thu hồi đất.
Xác định Nhà nước, chủ đầu tư Phải có yếu tố lỗi trong việc gây ra yếu tố lỗi không có lỗi gây ra thiệt thiệt hại của người có trách nhiệm hại. bồi thường, lỗi được pháp luật quy định hoặc thỏa thuận giữa các bên (nếu có). Xác định Thiệt hại xác định được cụ Phải có thiệt hại thực tế xảy ra, được thiệt hại thể và thiệt hại không xác xác định cụ, thiệt hại phải do lỗi định được cụ thể. (hành vi vi phạm pháp luật của một Chẳng hạn trường hợp bồi trong các bên), có mối quan hệ nhân thường chi phí đầu tư vào quả giữa hành vi vi phạm pháp luật đất còn lại nếu không có và thiệt hại.
giấy tờ chứng minh, thì được bồi thường 30% giá trị đất. Định nghĩa hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Theo từ điển Tiếng Việt, hỗ trợ có nghĩa là giúp đỡ nhau, giúp đỡ thêm vào. Tại khoản 14, Điều 3 LĐĐ năm 2013 giải thích: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển. Điều này có thể được hiểu như sau: Xuất phát từ việc thu hồi đất, ngoài việc bồi thường thì Nhà nước còn áp dụng các quy định và các chính sách của hỗ trợ nhằm thể hiện sự nhân đạo, biểu hiện bản chất của dân, do dân và vì dân của Nhà nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn của người dân bị thu hồi đất, thông qua việc đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới… giúp đỡ một phần nào rủi ro mà họ phải gánh chịu khi Nhà nước thu hồi đất, đồng thời giúp cho người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định đời sống, sản xuất và kinh doanh.
Theo quy định này, thì Nhà nước đã loại bỏ trách nhiệm đối với những thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất mà không thuộc trường hợp được bồi thường bắt buộc. bởi như đã trình bày ở trên, khi sử dụng thuật ngữ “ hỗ trợ” nó giống như một chính sách ban ơn của Nhà nước, Nhà nước xét thấy trường hợp nào cần hỗ trợ thì sẽ hỗ trợ, trường hợp nào không được hỗ trợ thì không hỗ trợ. Trong khi đó, hành vi thu hồi đất là do Nhà nước thực hiện, các hậu quả xảy ra do việc thu hồi đất là do Nhà nước gây ra, các thiệt hại đó không chỉ là thiệt hại thực tế về vật chất mà nó còn là các thiệt hại phi vật chất, thiệt hại vật chất gián tiếp như đã phân tích tại mục 1. Do vậy, những thiệt hại đó Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường chứ không phải hỗ trợ cho người bị thu hồi đất, chỉ nên coi các hỗ trợ về chính sách như hỗ trợ cho hộ nghèo, hỗ trợ cho người có công với cách mạng, hỗ trợ cho các hộ di chuyển đến các vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn là khoản hỗ trợ của Nhà nước.
Hiện nay, Nhà nước quy định nhiều khoản hỗ trợ nhưng tác giả xin được đề cập đến hai khoản hỗ trợ đó là: Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất và hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người bị thu hồi đất. 11 Theo tác giả, hai khoản hỗ trợ này lẽ ra phải được coi là khoản bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất bởi nó là thiệt hại có thể thấy được, có thể xảy ra thực tế do việc thu hồi đất của Nhà nước.