Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TƯ VẤN, HỖ TRỢ HỌC SINH CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực tư vấn, hỗ trợ học sinh cho giáo viên ở trường trung học cơ sở Với vai trò là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục, GV trở thành tâm điểm của chính sách cải tổ và phát triển giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy mà các nước đã và đang dành sự quan tâm sâu sắc đến việc xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, BD và phát triển đội ngũ nhà giáo.
Tại Philippines, vấn đề phát triển đội ngũ nhà giáo được Nhà nước quan tâm đặt biệt. Chính phủ Philippines chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch tổng thể đào tạo bồi dưỡng GV 10 năm (1998-2008), đề xuất những giải pháp đáng chú ý như: thu hút HS khá giỏi vào ngành sư phạm, tạo việc làm cho GV mới ra trường, giảm tình trạng thất nghiệp đối với GV mới, thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng tại chức, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của GV trong xã hội. Tại Cộng hòa Pháp, quốc gia có nền giáo dục phát triển ở Châu Âu, triển khai xây dựng nhiều nguyên tắc mới cho giáo dục, trong đó đề cập đến công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho GV: mỗi GV được hưởng ít nhất 35 giờ đối với công tác đào tạo tiếp tục hàng năm. Tăng cường làm việc nhóm để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy lẫn nhau.
Thời gian làm việc của GV giảm từ 18 giờ xuống 15 giờ/tuần, thạc sĩ giảm từ 15 giờ xuống 14 giờ/tuần. Chính sách cũng quy định cụ thể, GV phải dành 4 giờ/tuần có mặt tại trường để nghiên cứu tài liệu, đối với thạc sĩ là 3 giờ/tuần (132 giờ/năm). Ngoài đào tạo, bồi dưỡng GV thì công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL giáo dục cũng được chú trọng. 7 Nghiệp vụ tư vấn học đường ra đời ở Mĩ những năm đầu thế kỉ XX từ công tác hướng nghiệp trong nhà trường.
Cuốn sách “chọn nghề” của Frank Parsons (1858-1908) người được coi là “cha đẻ” của hướng nghiệp cho rằng TV nghề có hệ thống trong trường học và TV cá nhân có vai trò quan trọng. Những quan điểm của ông đã trở thành các nguyên lý trong TVHT. Francis Galton (1822-1911) và Karl Pearson đã thiết lập và tiến hành trắc nghiệm, chẩn đoán tâm lí nghề nghiệp trong TV hướng nghiệp. Carl Rogers đã đưa ngành TVTL lên địa vị quan trọng với PPTV thân chủ trọng tâm và HS là trung tâm trong TVHĐ.
“Năm 1958 đạo luật NDEA đã cho phép các trường CĐ, ĐH đào tạo các chương trình TVHĐ”. Theo Unicef, (báo cáo tư vấn hỗ trợ xây dựng năng lực, công bằng và toàn diện kết quả giáo dục báo cáo và nghiên cứu, 2016 https://www.org/about/ employ/): Mục đích của tư vấn là đảm bảo hỗ trợ liên tục và có chất lượng cho thực hiện và báo cáo các HĐ liên quan và hòa nhập và các hoạt động giáo dục liên quan đến công bằng trong các phân ngành giáo dục mầm non và tiểu học. Các nhiệm vụ cũng sẽ đòi hỏi công việc chuẩn bị nội dung truyền thông để làm nổi bật quan trọng những thành tựu đạt được thông qua chương trình giáo dục. Quá trình ra quyết định nghề nghiệp của học sinh trung học: Nghiên cứu theo chiều dọc về một lựa chọn.
Tạp chí Hành vi Nghề nghiệp, 68 (2006), trang 189–204. Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định nghề nghiệp của HS, từ đó giúp nhà nghiên cứu đề xuất giải pháp để TVHT cho HS trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho HS. Sự tham gia của nhà trường với tư cách là trung gian hòa giải thành tích học tập của thanh niên 8 thành thị: Vai trò chuẩn bị cho nghề nghiệp, hỗ trợ nghề nghiệp của phụ huynh và hỗ trợ của giáo viên. Nhà tâm lý học tư vấn, 38 (2), trang 269-295.
Nghiên cứu trình bày sự phối hợp TVHT giữa các lực lượng tham gia GD gồm nhà trường-gia đình. Tư vấn học sinh và thành tích học tập. Procedia - Khoa học xã hội và hành vi, 30 (2011), trang 625 - 628. Nghiên cứu chỉ rõ quá trình TVHT HS có ảnh hưởng đến chất lượng học tập của HS.
Ảnh hưởng của các dịch vụ tư vấn đối với kết quả học tập được nhận thức của học sinh trung học ở Bang Lagos. Tạp chí Hướng dẫn Quốc tế, 10(2), trang 211-228. Tác giả cho rằng TVHT giúp HS học tập tốt hơn tránh được những ảnh hưởng xấu, hệ lụy của XH. Hiện nay, nghiên cứu tư vấn học đường được triển khai là: - Nghiên cứu về các chương trình can thiệp, hỗ trợ HS.
- Nghiên cứu các vấn đề tâm lý nảy sinh ở HS: các vấn đề về hành vi, xúc cảm, học tập. - Nghiên cứu các nhu cầu tư vấn của HS. - Nghiên cứu về các mô hình cung cấp dịch vụ - Nghiên cứu về cách thức QL và các loại hình QL HĐ tư vấn. Những nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực tư vấn, hỗ trợ học sinh cho GV ở trường THCS Những năm 90 của thế kỉ XX, các HĐ nhìn bề ngoài có vẻ rời rạc như: sự hình thành các trung tâm CTXH với các HĐ giúp đỡ người khó khăn; các hình thức TV qua mạng, điện thoại, sự ứng dụng trắc nghiệm TL vào HĐ hướng nghiệp tại các trường học và cộng đồng…đều đã góp phần vào việc hình thành nghề tư vấn ở Việt Nam.
Khởi đầu là HĐ TV cho lời khuyên. Với sự phát triển của kinh tế xã hội hiện nay ở hầu hết các thành phố, thị xã khi có vấn đề TL đều tìm đến các “bác sĩ tâm lí” để được giúp đỡ, hỗ trợ. 9 Hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh” tổ chức năm 2003 tại trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã kêu gọi bên cạnh sự quan tâm phát triển về thế chất, cũng rất cần quan tâm đến tâm sinh lý lứa tuổi HS, nhằm giúp các em có định hướng trong học tập, cuộc sống của lứa tuổi HS, trước những biến động của các yếu tố từ bên trong và bên ngoài nhà trường. Các tác giả: Lê Vân Anh, Phan Thị Ngọc Anh, Nguyễn Thị Quyên và Nguyễn Minh Hằng cũng đã có các công trình nghiên cứu về một số biểu hiện về hành vi lệch chuẩn của HS trong nhà trường nhằm xác định nhu cầu tham vấn trong trường phổ thông đề xuất TVTL học đường trong nhà trường.
Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà QL bước đầu định hướng HĐTV cho HS. Năm 2007 trong cuốn “Tư vấn tâm lý học đường”, Nguyễn Thị Oanh giải đáp khó khăn trong các lĩnh vực đời sống giúp HS tự khám phá, làm chủ bản thân, giúp GV, PHHS hiểu thêm TL của HS. [22] Năm 2009, Giáo trình “Tham vấn tâm lí” của tác giả Trần Thị Minh Đức xuất bản trở thành nền tảng lí thuyết đầu tiên cho hoạt động tư vấn tâm lý và đào tạo chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp. Ngô Minh Huy với bài viết trong Hội thảo khoa học: “Hỗ trợ tâm lý cho HS-SV” do Hội khoa học TL - GD tỉnh Đồng Nai tổ chức tại bệnh viện Tâm thần II (18/12/2007), giới thiệu sơ lược lịch sử ngành TV, vấn đề phát triển TVHĐ, ai là nhà TV học đường?, nhà TV học đường cần phải làm gì? [26].
Kỷ yếu Hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường ở các trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, năm 2003, các bài viết đã trình bày khá rõ thực trạng nhu cầu TVHĐ ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra nguyên nhân, giải pháp định hướng cơ bản. 10 Hội thảo “Tư vấn tâm lý - giáo dục - thực tiễn và định hướng phát triển” được tổ chức tại thành phố hồ Chí Minh vào tháng 2 năm 2006 đã đề ra cách nhìn nhận đúng đắn của người lớn đối với HS, đồng thời khẳng định vai trò của TVHĐ đối với HS, NT và XH. Ngoài ra một số bài báo, tạp chí cũng đề cập tới công tác TVHĐ như: “Về tư vấn tâm lý - hướng nghiệp ở trường THCS” của Nguyễn Bá Đạt, Tạp chí GD - Bộ GD-ĐT, số 63, tháng 7/2003, trình bày về tâm lý và hướng nghiệp của HS THCS; “Cần có các chuyên viên tâm lý trong trường học” của Nguyễn Phương Hoa, công bố trên Tạp chí TLH - Viện TLH, đã nêu ra một số khó khăn về tâm lý mà HS thường gặp, đề xuất giải pháp cụ thể. Trong đó lưu ý việc phải có các chuyên viên TL trong trường nhằm giúp HS giải quyết các thắc mắc và khó khăn gặp phải.
Cuốn sách “Kỹ năng tham vấn học đường – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Hoàng Anh Phước đã trình bày cơ bản tham vấn học đường, như thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn, chân dung một số nhà tham vấn và phân tích một số ca tham vấn học đường điển hình. Năm 2006, nghiên cứu về “Tham vấn học đường - nhìn từ góc độ giới” của Trần Thị Minh Đức và Đỗ Hoàng, công bố trên Tạp chí TL học là bài viết có giá trị xung quanh vấn đề TVHĐ nhìn từ góc độ giới, trong đó tác giả đã chỉ ra những nét khác biệt cơ bản trong TL của HS nam và nữ. “Tìm hiểu thực trạng và các giải pháp định hướng về nhu cầu tư vấn học đường ở học sinh THCS trong nội thành thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của Võ Thị Tích, đã đưa ra thực trạng chung của nhu cầu TVHĐ của HS THCS và đề xuất một số giải pháp định hướng cơ bản. [33] Tác phẩm “Tư vấn tâm lí tuổi vị thành niên” của Nguyễn Công Khanh tiếp cận sáng tạo phân tích những biến đổi tâm lí tuổi vị thành niên, từ đó có những chia sẻ quan điểm, định hướng cho thầy cô giáo, cha mẹ và HS trong vấn đề tư vấn tâm lí.
[24] 11 Tác phẩm “Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở” của Phạm Tất Dong (Chủ biên) đã phân tích những phương pháp luận cơ bản định hướng cho các nhà trường trong tư vấn hướng nghiệp cho HS THCS. [12] Lê Sơn với nghiên cứu “Nhiệm vụ TVHĐ” tạp chí thông tin GD 2018 đã chỉ rõ nhiệm vụ của TVHĐ, mô hình HĐ của phòng TVTL cho HS.Xaxerdotop với “nhũng vấn đề QL trường học” đề xuất các nguyên tắc QL, xây dựng cơ sở lí luận QLGD.