CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI DƯỠNG NỮ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 1. Khái niệm chung 1. Nữ đại biểu Quốc hội Nữ đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là những đại biểu nữ, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước. Cũng giống như các Đại biểu Quốc hội, các nữ đại biểu Quốc hội có địa vị pháp lí đặc biệt, họ vừa là đại diện chính thức của nhân dân vừa là đại biểu cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; đại biểu Quốc hội là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với nhân dân.
Các đại biểu Quốc hội phải là công dân Việt Nam từ đủ 21 tuổi trở lên, có quyển ứng cử, được hiệp thương và đưa vào danh sách ứng cử viên chính thức và được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu; trong cuộc bầu cử Quốc hội theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã được cử trí tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội và được Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội xác định đủ tư cách làm đại biểu Quốc hội (Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015). Các đại biểu Quốc hội nói chung và các nữ đại biểu Quốc hội nói riêng là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do. Đó là những đại biểu chân chính của nhân dân. Các đại biểu Quốc hội là những người được bầu ra để thay mặt nhân dân ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
14 Địa vị pháp lý đặc biệt của đại biểu Quốc hội được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Trên thực tế hiện nay, số lượng nữ đại biểu Quốc hội chiếm không quá một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội nhưng lại đảm nhận nhiều cơ cấu bao gồm: Cơ cấu là nữ, cơ cấu trẻ tuổi, cơ cấu của Mặt trận, cơ cấu ngoài Đảng (thực tế những cơ cấu này chiếm tỉ lệ “quân xanh” khá nhiều trong quá trình bầu cử). Các nữ đại biểu Quốc hội vừa phải đảm nhận quá nhiều cơ cấu, vừa phải đảm bảo trách nhiệm với công việc, gia đình, con cái, nên họ có những điểm yếu thế hơn nhiều so với các đại biểu là nam giới về cả trình độ chuyên môn và thời gian dành cho hoạt động nghị trường. Khái niệm bồi dưỡng nữ đại biểu Quốc hội Bồi dưỡng (fostering) là quá trình giáo dục, đào tạo làm tăng thêm những kiến thức mới cho những người đang giữ chức vụ hoặc đang thực thi một nhiệm vụ nhất định.
Bồi dưỡng là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Thuật ngữ bồi dưỡng còn được gọi là đào tạo lại hoặc tái đào tạo. Theo Từ điển tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên [11], Bồi dưỡng đó là làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.
Phân tích những nét nghĩa chính của khái niệm “bồi dưỡng” được các từ điển giải thích trên đây cho thấy, đây là khái niệm chỉ quá trình làm tốt hơn, lành mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể, “bồi dưỡng” được coi là một giai đoạn ngắn, bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sẵn của khách thể. Hiện nay, theo các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam có sử dụng thuật ngữ “bồi dưỡng” ví dụ như: Nghị định 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã đưa ra cách hiểu về bồi dưỡng như sau: 15 “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”. Theo nghĩa rộng, bồi dưỡng là quá trình đào tạo nhằm hình thành năng lực và phẩm chất, kĩ năng theo mục tiêu xác định. Như vậy, bồi dưỡng bao hàm cả quá trình giáo dục và đào tạo nhằm trang bị tri thức, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ và những phẩm chất nhân cách.
Quá trình bồi dưỡng, được hiểu theo nghĩa rộng diễn ra cả trong nhà trường và trong đời sống xã hội, có nhiệm vụ không những chỉ trang bị những kiến thức, năng lực chuyên môn cho người học trong các khóa học mà còn tiếp tục bổ sung, phát triển, cập nhật nhằm hoàn thiện phẩm chất và năng lực cho họ sau khi đã kết thúc quá trình học tập. Theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là quá trình bổ sung, phát triển, hoàn thiện nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn và những phẩm chất, nhân cách. Hoạt động này diễn ra sau quá trình người học kết thúc chương trình giáo dục và đào tạo ở nhà trường. Như vậy, theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là một bộ phận của quá trình giáo dục và đào tạo, là khâu tiếp nối giáo dục và đào tạo con người khi họ đã có những tri thức, năng lực chuyên môn và phẩm chất nhân cách nhất định được hình thành trong quá trình đào tạo.
Như vậy, có thể hiểu bồi dưỡng nữ đại biểu Quốc hội là quá trình làm tăng thêm trình độ, phẩm chất, tác động đến người được bồi dưỡng (ở đây là nữ đại biểu Quốc hội), góp phần nâng cao năng lực hoạt động đại biểu Quốc hội, nhằm thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình. Trên cơ sở của mặt bằng kiến thức chuyên môn được đào tạo trước đó, bồi dưỡng là quá trình liên tục nâng cao kiến thức, kỹ năng hoạt động đại biểu Quốc hội. Đây là việc trau dồi, bổ sung thông tin cho đại biểu Quốc hội về những lĩnh vực kiến thức còn thiếu, hoặc tăng cường kiến thức chuyên sâu hơn cho các đại biểu Quốc hội; tập huấn kỹ năng cho đại biểu Quốc hội để đại biểu tự tin hơn trong hoạt động của mình. 16 Tất cả các hoạt động như trang bị, bổ túc kiến thức, chia sẻ, tích lũy thông tin, kinh nghiệm và rèn luyện, nâng cao năng lực, kỹ năng hành động cho đại biểu Quốc hội được hiểu là hoạt động bồi dưỡng đại biểu Quốc hội; hoạt động này diễn ra ở khắp mọi nơi: trong khóa tập huấn, hội nghị, hội thảo và ở ngay trong quá trình công tác, thực thi nhiệm vụ hàng ngày của mỗi người.
Hiểu theo nghĩa này, có không ít đại biểu Quốc hội đã từng phát biểu: tham gia một khóa Quốc hội cũng giống như được tham gia một khóa học lớn, đã trưởng thành rất nhiều và học tập được rất nhiều cả kiến thức, cả phương pháp và kinh nghiệm làm đại biểu Quốc hội. Đó chính là quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện từ thực tế hoạt động, từ những va đập của thực tiễn. Hiện nay chưa có một khái niệm chính thống nào về công tác bồi dưỡng nữ đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, có thể hiểu Bồi dưỡng nữ đại biểu Quốc hội chính là hoạt động nhằm cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng (cơ bản và chuyên sâu) thông qua các hội nghị, hội thảo, các khóa tập huấn trực tiếp hoặc trực tuyến hướng tới đối tượng là nữ đại biểu Quốc hội, phục vụ các hoạt động nghị trường.
Ngoài ra, từ thực tiễn công tác bồi dưỡng đại biểu Quốc hội, khái niệm bồi dưỡng nữ đại biểu Quốc hội bắt đầu chính thức xuất hiện. Đó là hoạt động có tổ chức, có chủ định, có bài bản theo khung chương trình chung, các chương trình cụ thể cho từng loại đối tượng và với những nội dung, phương thức, hình thức bồi dưỡng đặc thù dành cho đại biểu Quốc hội, do một cơ quan trong Quốc hội được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan, chủ thể khác tổ chức. Nâng cao kiến thức, kỹ năng hoạt động của nữ đại biểu Quốc hội chính là mục đích của hoạt động bồi dưỡng nữ đại biểu Quốc hội. Chủ thể bồi dưỡng nữ đại biểu Quốc hội Ở Việt Nam hiện nay có nhiều chủ thể tham gia hoạt động bồi dưỡng cán bộ như: các cơ quan Đảng có Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Chính phủ giao công tác bồi dưỡng cho Bộ Nội vụ; Quốc hội giao hoạt động 17 này cho Ban Công tác đại biểu (triển khai trực tiếp là Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử).
Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử Từ năm 2004, hoạt động bồi dưỡng đại biểu dân cử được tiến hành chuyên biệt thông qua việc thành lập Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử - hiện là đơn vị cấp vụ thuộc Văn phòng Quốc hội, có chức năng nghiên cứu, tham mưu, tổ chức phục vụ Ban Công tác đại biểu trong việc giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho đại biểu dân cử. Thành lập từ năm 2004 theo Quyết định số 514/QĐ/VPQH ngày 10 tháng 11 năm 2004 của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử có vị trí là đơn vị cấp phòng, đảm trách nhiệm vụ giúp lãnh đạo Văn phòng Quốc hội điều phối và tổ chức thực hiện các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn cho đại biểu dân cử [20]. Để tạo điều kiện thuận lợi cho Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình, ngày 03/3/2008 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết 591/2008/NQ- UBTVQH12 về việc nâng cấp Trung tâm từ đơn vị cấp Phòng thành đơn vị cấp Vụ và chuyển từ đơn vị thuộc khối phục vụ chung của Văn phòng Quốc hội thành đơn vị chuyên môn trực tiếp giúp việc cho Ban Công tác đại biểu [19]. Theo Nghị quyết số số 575/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Chức năng, nhiệm vụ của Ban Công tác đại biểu đã nêu: Ban Công tác đại biểu là cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban thường vụ Quốc hội; có trách nhiệm giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội về công tác đại biểu, tổ chức bộ máy và nhân sự thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.