phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ văn phòng các trường THPT. Thực trạng về hoạt động bồi dưỡng và quản lí hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ văn phòng các trường THPT tỉnh Quảng Ninh Chƣơng 3. Biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ văn phòng các trường THPT tỉnh Quảng Ninh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NGHIỆP VỤ HÀNH CHÍNH CHO CÁN BỘ VĂN PHÒNG CÁC TRƢỜNG THPT 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Nghiên cứu biện pháp QL hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ văn phòng là một vấn đề tưởng như đơn giản nhưng lại rất khó khăn, phức tạp và cơ bản. Vì thực chất công tác QL trường học của hiệu trưởng chủ yếu là QL hoạt động chuyên môn với mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên và các cán bộ làm việc trong trường học.
Việc nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường nói chung và nhà trường THPT nói riêng từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển Giáo dục và Đào tạo của xã hội, nâng cao chất lượng giảng dạy, vai trò đóng góp của các biện pháp đó là hết sức quan trọng. Đây là vấn đề luôn luôn được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm. Họ nghiên cứu thực tiễn các nhà trường để tìm ra biện pháp QL hoạt động chuyên môn sao cho có hiệu quả nhất.
Các tư tưởng quản lý sơ khai xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy Lạp và cổ Trung Hoa. Sự đóng góp của các nhà triết học cổ Hy Lạp tuy còn ít ỏi nhưng đáng ghi nhận: Đó là các tư tưởng của Xôcrát (469-399 Tr. CN), Platôn (427-347 Tr.CN) và Arixtôt (384-322 Tr. Thời Trung Hoa cổ đại đã công nhận các chức năng quản lý đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, tác động, kiểm tra.
Các nhà hiền triết của Trung Hoa trước công nguyên đã có những đóng góp lớn về tư tưởng quản lý quan trọng về tư tưởng quản lý vĩ mô, quản lý toàn xã hội. Các nhà tư tưởng và chính trị lớn đó là Khổng Tử (551- Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.CN), Mạnh Tử (372289 Tr.CN), Thương Ưởng (390-338 Tr.CN) đã nêu lên tư tưởng quản lý “Đức trị, Lễ trị” lấy chữ tín làm đầu. Những tư tưởng quản lý trên vẫn có ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nước phương đông ngày nay. Các nghiên cứu QL giáo dục Xô Viết đã cho rằng: “ Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ giáo viên” với kinh nghiệm 26 năm làm hiệu trưởng VAXukhomlin xiki (VA.Xukhomilinki - Một số kinh nghiệm lãnh đạo của hiệu trưởng ) đã tổng kết được những thành công cũng như thất bại của mình.
Cùng với nhiều tác giả khác ông đã đưa ra một số biện pháp QL của trường trung học như sau: Việc phân công công việc hợp lý qua các thành viên trong BGH, hiệu trưởng và hiệu phó phụ trách chuyên môn. Các tác giả nhấn mạnh đến sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất QL giữa hiệu trưởng và hiệu phó để đạt mục tiêu đề ra. Ở Việt Nam GD là một hiện tượng xã hội đặc biệt, được sinh ra và tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đó là một hoạt động không thể thiếu trong việc phát triển của xã hội loài người vì nó tác động đến mọi hoạt động khác trong xã hội.
Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, loài người bước vào thế kỷ của nền kinh tế tri thức thì GD càng giữ một vị trí quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết trong chiến lược phát triển đất nước của mọi quốc gia. Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ rõ: "Để thực hiện được mục tiêu chiến lược mà Đại hội VIII đã đề ra cần phải khai thác và sử dụng nhiều nguồn nhân lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt là đối với nước ta khi nguồn lực tài chính còn hạn hẹp. Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và được phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn huy bởi một nền GD tiên tiến gắn liền với khoa học, công nghệ hiện đại: GD phải làm tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học và công nghệ" [35]. Trong lĩnh vực quản lý giáo dục ở Việt Nam những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cũng như đề ra được các giải pháp quản lý có hiệu quả trong việc phát triển giáo dục và đào tạo ví dụ như; PGS.
TS Nguyễn Ngọc Quang “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của quản lý, QLGD, các đối tượng của khoa học QLGD; PGS.TS Đặng Bá Lãm - PGS.TS Phạm Thành Nghị “Chính sách và Kế hoạch phát triển trong quản lý giáo dục” đã phân tích khá sâu sắc về lý thuyết và mô hình chính sách, các phương pháp lập kế hoạch giáo dục; GS.TSKH Vũ Ngọc Hải - PGS.TS Trần Khánh Đức “Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI” đã trình bày những quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển giáo dục và hệ thống giáo dục. Như vậy mục đích của GD ngày nay không đơn thuần là truyền thụ cho HS những tri thức mà loài người đã tích luỹ được qua nhiều thế hệ mà còn phải bồi dưỡng cho HS biết làm chủ bản thân, độc lập trong suy nghĩ, tích cực tìm tòi phát hiện ra cái mới trong học tập và nghiên cứu; biết tự giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong các hoạt động hàng ngày của bản thân. Đó chính là GD đã trang bị cho họ những năng lực cần thiết của người lao động mới, lao động có trí tuệ: Năng lực tự học, tự nghiên cứu; năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh; năng lực giao tiếp, khả năng sáng tạo. Để làm được việc này ngành GD nói chung và các nhà QLGD nói riêng đã tích cực tìm ra được những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng GD.
Và một trong những giải pháp đó chính là đổi mới cơ chế QLGD từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô là các nhà trường. Các nhà nghiên cứu đều đã thống nhất chung một quan điểm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn là làm công tác QLGD phải không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng điều hành và QL của mình để qua đó tác động một cách có hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ thống GD. Đặc biệt việc QL hoạt động GD trong nhà trường có vai trò quyết định đến chất lượng GD của nhà trường. Mà việc QL hoạt động GD của nhà trường chính là QL hoạt động của đội ngũ GV, nhân viên trong nhà trường.
Trong nhà trường phổ thông, đội ngũ GV, NV lại được sắp xếp theo từng tổ nên việc QL hoạt động của đội ngũ GV, NV đối với người HT chính là QL hoạt động của các tổ này trong nhà trường. Suy cho cùng, mục đích của công việc QL này là nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của nhà trường: nâng cao chất lượng dạy và học. Điều này đã được khẳng định trong Luật GD năm 2005: "Tuy không trực tiếp tham gia vào hoạt động dạy và học, nhưng cán bộ QL GD bằng những hoạt động QL của mình tác động vào quá trình GD nhằm hướng cho hoạt động dạy và học đạt được những mục tiêu yêu cầu của GD và bảo đảm chất lượng GD" [23]. Hoạt động bồi dưỡng giáo viên đã được quan tâm nghiên cứu từ cách tổ chức và quản lí nhưng quản lí hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ văn phòng ít được nghiên cứu, mặc dù hoạt động này nói riêng và quản lí hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ trong các trường THPT nói chung không phải là hoạt động mới lạ mà nó là hoạt động được các nhà khoa học, các nhà quản lí quan tâm thường xuyên.
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu quản lí hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên về các khía cạnh nhưng nghiên cứu việc quản lí hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ văn phòng các trường THPT tỉnh Quảng Ninh thì lại chưa có tác giả nào đề cập. Vì vậy, tôi lựa chọn vấn đề: “Quản lí hoạt động bồi dưỡng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn nghiệp vụ hành chính cho cán bộ văn phòng các trường THPT tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn để nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường 1.
Quản lí Theo Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich: “QL là thiết kế một môi trường mà trong đó con người cùng làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành mục tiêu”; “QL là hoạt động thiết yếu của nhà QL đảm bảo sự phối hợp, sự nỗ lực của mỗi cá nhân trong tổ chức nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định trong những điều kiện thời gian, công sức và kinh phí bỏ ra ít nhất nhưng hiệu quả cao nhất” [9, tr. Các tác giả Paul Hersey và Ken Blanc Hard cho rằng: “QL như một quá trình làm việc cùng nhau và thông qua cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức” [20, tr. Theo từ điển tiếng Việt “QL là tổ chức, điều khiển theo những yêu cầu nhất định” [33, tr. Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “QL là sự tác động có ý thức của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [37, tr.