Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ CHO CÁN BỘ CHIẾN SĨ CÔNG AN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Để đáp ứng yêu cầu đổi mới và xây dựng đất nước, ngày 20/11/1996, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 874/QĐ-TTg về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước, trong đó nêu rõ mục tiêu, đối tượng, nội dung và hình thức đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD). Tiếp đó, ngày 07/05/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2001 - 2005; ngày 04/08/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ban hành quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trong đó xác định hệ thống quản lý; các cơ sở ĐTBD CBCC; phân công, phân cấp ĐTBD CBCC. Nghị quyết Trung ương 9 khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020 đã xác định: “Mục tiêu cần đạt được là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Như vậy, có thể thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng nói chung được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong thời gian dài. Thực hiện theo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, công tác đào tạo, bồi dưỡng mọi đối tượng đều tích cực được thực hiện, hoạt động quản lý đào tạo, bồi dưỡng từ đó cũng được đề cao. Trong quá trình thực hiện, có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động quản lý đào tạo, bồi dưỡng nói chung và quản lý, đào tạo bồi dưỡng các đối tượng đặc thù nói riêng. Tác giả Nguyễn Văn Hà đã nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị tỉnh Bắc Kạn”.
Luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn về quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở; khảo sát thực trạng quá trình quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng ở trường Chính trị Bắc Kạn. Qua đó, luận văn đã đề xuất được biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn. Tác giả Nguyễn Kiều Oanh nghiên cứu “Một số nội dung cần đổi mới trong quản lý hoạt động đào tạo - bồi dưỡng đội ngũ giảng viên Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội” [9]. Bài viết chỉ ra rằng công tác quản lý và sử dụng đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Ngoại ngữ vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, một phần do cơ chế chính sách phát triển, thu hút đội ngũ cán bộ khoa học của Nhà nước còn chưa theo kịp với yêu cầu của thực tiễn, một phần do Nhà trường chưa quan tâm thật đầy đủ và toàn diện đến hoạt động đào tạo - bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên, do đó chưa đáp ứng tốt yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH và phục vụ xã hội của Nhà trường.
Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội Nhằm tìm hiểu và có cơ sở đánh giá thực trạng quản lý hoạt động ĐTBD đội ngũ giảng viên tại Trường ĐHNN, tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi với 70 giảng viên của Nhà Trường. Tác giả tiến hành chia độ tuổi của các cá nhân trả lời phỏng vấn theo hai nhóm, nhóm 1 độ tuổi từ 23 - 39 có 56 trường hợp trả lời (chiếm 80%) và nhóm 2 độ tuổi từ 40 - 60 có 8 trường hợp (chiếm 11.4%) nhằm so sánh được những thông tin cụ thể về đào tạo - bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ trẻ và cán bộ có thâm niên. Xét đặc điểm về nhóm tuổi, giới hạn trong cỡ mẫu khảo sát cho thấy, số lượng cán bộ có độ tuổi dưới 40 chiếm tỉ lệ khá cao. Kết quả khảo sát đã cho thấy, hầu hết các trường hợp được hỏi đều đánh giá các chính sách đãi ngộ về thời gian, kinh phí và chính sách sử dụng bổ nhiệm có tác động khá nhiều đến các hoạt động ĐTBD.
Nổi bật hơn cả là chính sách sử dụng và bổ nhiệm cán bộ sau khi được cử Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đi bồi dưỡng với 27.5% đánh giá tác động khá nhiều và 40. Hầu như số lượng các cá nhân cho rằng các chính sách này có tác động ít hoặc không có tác động gì cả là không hề đáng kể. Như vậy, việc quản lý theo mục tiêu chiến lược về nguồn nhân lực bằng các chính sách đã cho thấy những tác động khá rõ ràng đến việc tham gia các hoạt động ĐTBD đội ngũ GV ở Trường ĐHNN. Với cách quản lý như vậy, Trường ĐHNN vừa có thể nâng cao chất lượng của NNL đồng thời GV cũng được đáp ứng các nhu cầu về đãi ngộ.
Về hoạt động kiểm tra, đánh giá - đây là một hoạt động khá quan trọng nhằm biết được hiệu quả của việc tổ chức, quản lý thì lại có tỉ lệ thấp hơn nhưng được trải đều trong các thang đo, cao nhất là tác động khá nhiều (50%). Xét đến những hoạt động cơ bản về phương pháp, nội dung và quy trình quản lý hoạt động ĐTBD, ý kiến đánh giá của GV Trường ĐHNN thể hiện như sau: hai tiêu chí chiếm được sự quan tâm đánh giá của GV Trường ĐHNN đó là kế hoạch tổ chức và chương trình ĐTBD. Trong đó, chương trình ĐTBD chiếm đến 50% ý kiến đánh giá tác động khá nhiều và kế hoạch tổ chức ĐTBD với 41. Lý giải cho việc đánh giá này, có thể nhận thấy rằng kế hoạch tổ chức và nội dung chương trình là hai yếu tố cực kỳ quan trọng quyết định toàn bộ hoạt động ĐTBD.
Dựa trên những căn cứ khảo sát đó, tác giả đã đề ra được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý đào tạo bồi dưỡng giảng viên của Trường. Những tài liệu trên là điều kiện tiền đề giúp tác giả có thể tiếp cận được đề tài nghiên cứu, có cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu, từ đó hoàn thiện được luận văn. Tác giả Trần Đình Hồng nghiên cứu “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý học viên trong các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay”. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, tác giả đã đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý học viên trong các học viện, trường sĩ quan quân đội trong đó có biện pháp chủ chốt là tổ chức bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý học viên theo tiếp cận năng lực [2].
Một số khái niệm cơ bản của đề tài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Quản lý Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” [1]. Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [8].
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, có thể xác định những quan niệm sau: - Quản lý là hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung của nhóm. - Quản lý là tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng một hệ thống các bộ luật, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng. - Quản lý là tác động có mục đích, có kết hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến. Như vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường.
Nghiệp vụ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Thuật ngữ nghiệp vụ được tiếp cận ở nhiều góc độ với nhiều tầng bậc nghĩa khác nhau. - Nghiệp vụ là: Nghề chuyên môn, công việc chuyên môn [17] - Nghiệp vụ: kĩ năng, biện pháp thực hiện công việc chuyên môn của một nghề nghiệp vụ điều tra bồi dưỡng nghiệp vụ. - Nghiệp vụ: là phương pháp, biện pháp, kĩ năng thực hiện công việc [16]. Với hướng nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếp cận khái niệm nghiệp vụ như sau: Nghiệp vụ là khái niệm dùng để chỉ kỹ năng, phương pháp thực hiện công việc chuyên môn thuộc một lĩnh vực nghề nghiệp nhất đình, là chương trình dành cho những người có mong muốn được làm việc và công tác về lĩnh vực đó.
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ Bồi dưỡng là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ở một số nghiên cứu bồi dưỡng còn được gọi là đào tạo lại hoặc tái đào tạo. Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn” [16]. Theo Từ điển Giáo dục học (2001) thì “Bồi dưỡng là trang bị thêm kiến thức, kỹ năng, nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể” [2] Ví dụ: bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ, bồi dưỡng lý luận… Chủ thể bồi dưỡng đã được đào tạo để có trình độ chuyên môn nhất định.