đặt vấn đề quan trọng trong việc đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra ngày càng cao của xã hội, thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nƣớc và hội nhập quốc tế. Theo đó, đào tạo đƣợc xem nhƣ là một quá trình làm cho ngƣời ta “trở thành ngƣời có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”, còn bồi dƣỡng đƣợc xác định là quá trình làm cho con ngƣời “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Nhƣ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 9 http://www.vn/ vậy, xét về mặt thời gian, đào tạo có thời gian dài hơn, thƣờng là từ một năm học trở lên, về bằng cấp thì đào tạo có bằng cấp chứng nhận trình độ đƣợc đào tạo, còn bồi dƣỡng thƣờng chỉ có chứng chỉ chứng nhận đã học qua khoá bồi dƣỡng. Việc tách bạch khái niệm đào tạo, bồi dƣỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích cặn kẽ sự giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dƣỡng.
Theo định nghĩa của Uỷ ban Nhân lực của Anh, bồi dƣỡng đƣợc xác định nhƣ là một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập, rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó. Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở tổ chức, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan. Trong đạo luật Liên bang của Mỹ, "Đào tạo, bồi dƣỡng" chính là việc tổ chức những cơ hội cho ngƣời ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt đƣợc mục tiêu của mình bằng việc tăng cƣờng năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con ngƣời, là cán bộ, công chức làm việc trong tổ chức. Đào tạo, bồi dƣỡng tác động đến con ngƣời trong tổ chức, làm cho họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ, phát huy hết năng lực làm việc của họ.
Nhƣ vậy, bồi dưỡng được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập, rèn luyện, trải nghiệm. Việc học tập, rèn luyện này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển, và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch. Với quan niệm nhƣ trên thì hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng nhằm tới các mục đích sau: Phát triển năng lực làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức và nâng cao khả năng thực hiện công việc thực tế của họ. Giúp cán bộ, công chức, viên chức luôn phát triển để có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu nhân lực trong tƣơng lai của tổ chức.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 10 http://www.vn/ Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của cán bộ, công chức, viên chức do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm. Khái niệm năng lực Đối với mỗi ngành khoa học, tùy vào đối tƣợng nghiên cứu của từng lĩnh vực mà khái niệm năng lực đƣợc định nghĩa khác nhau: - Dƣới góc độ triết học, năng lực của con ngƣời là sản phẩm của sự phát triển xã hội: “Sự hình thành năng lực đòi hỏi cá thể phải nắm được các hình thức hoạt động mà loài người đã tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử xã hội. Vì vậy, năng lực của con người không những do hoạt động bộ não của nó quyết định, mà trước hết là do trình độ phát triển lịch sử mà loài người đã đạt được” (M.M Rozental – Từ điển triết học, 1986, tr. Nhƣ vậy năng lực của cá nhân có đƣợc một phần do yếu tố tƣ chất, nhƣng quan trọng hơn cả là do quá trình lĩnh hội và trải nghiệm hoạt động thực tế của cá nhân đem lại thông qua sự tự thay đổi bản thân về kiến thức, kĩ năng, thái độ.
- Dƣới góc độ Tâm lý học: Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Các nhà nghiên cứu Tâm lý học khẳng định: năng lực của con ngƣời luôn gắn liền với hoạt động của chính con ngƣời, nội dung, tính chất của hoạt động đƣợc quy định bởi nội dung, tính chất của đối tƣợng mà hoạt động hƣớng dẫn. Vì vậy, khi nói đến năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ: khả năng tri giác, khả năng ghi nhớ, .) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân đáp ứng đƣợc yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả mong muốn. - Theo từ điển Giáo dục học: Năng lực, khả năng, đƣợc hình thành hoặc phát triển cho phép một con ngƣời đạt thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp.
Năng lực đƣợc thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 11 http://www.vn/ Với các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, thuật ngữ “năng lực” đƣợc ý niệm rất sớm từ những năm 1970 và có rất nhiều định nghĩa đƣợc đƣa ra xuất phát từ nhiều hƣớng tiếp cận trong những bối cảnh khác nhau: Các định nghĩa mặc dù có sự khác nhau nhƣng hầu hết đều có chung một số quan điểm: Năng lực bao gồm một loạt các kiến thức, kỹ năng, thái độ hay các đặc tính cá nhân khác cần thiết để thực hiện công việc thành công. Bên cạnh đó, những yếu tố này phải quan sát hay đo lƣờng đƣợc để có sự phân biệt giữa ngƣời có năng lực và ngƣời không có năng lực. Năng lực thể hiện tính chủ quan trong hành động và có thể có đƣợc nhờ sự bền bỉ, kiên trì học tập, hoạt động, rèn luyện và trải nghiệm.
Về bản chất, năng lực là tổ hợp của kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ và một số yếu tố tâm lý khác phù hợp với yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả. Khi năng lực phát triển thành tài năng thực sự thì các yếu tố này hoà quyện, đan xen vào nhau. Năng lực đƣợc xem nhƣ là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và đòi hỏi của công việc để thực hiện công việc thành công. Năng lực đƣợc hiểu là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ hay các phẩm chất cá nhân khác (động cơ, nét tiêu biểu, ý niệm về bản thân, mong muốn thực hiện…) mà tập hợp này là thiết yếu và quan trọng của việc hình thành những sản phẩm đầu ra.
Năng lực đƣợc hình thành và phát triển qua quá trình đào tạo, bồi dƣỡng và sự trải nghiệm của hoạt động cá nhân của mỗi ngƣời. Quản lý hành chính Nhà nước, các chức năng quản lý Nhà nước Quản lý hành chính Nhà nƣớc là hoạt động thực thi quyền hành pháp, do hệ thống cơ quan nhà nƣớc từ Trung ƣơng đến cơ sở tiến hành nhằm duy trì trật tự xã hội, phát triển đời sống cộng đồng, quản lý xã hội về tất cả mọi mặt. Nội dung quản lý Hành chính Nhà nƣớc bao gồm các nội dung sau. - Quản lý Nhà nƣớc về kinh tế, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh vv… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 12 http://www.vn/ - Quản lý Nhà nƣớc về tài chính, ngân hàng, tín dụng, thị trƣờng chứng khoáng, tài sản công vv… - Quản lý Nhà nƣớc về nguồn nhân lực, về xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ công chức.
- Quản lý Nhà nƣớc về tài nguyên, thiên nhiên, môi trƣờng, khoa học công nghệ và chuyển giao khoa học công nghệ. - Quản lý việc xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý hành chính Nhà nƣớc. Các chức năng quản lý hành chính Nhà nƣớc gồm: Chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện những nội dung quản lý hành chính nhà nƣớc để ổn định đới sống cộng đồng, phát triển xã hội về mọi mặt và quản lý mọi hoạt động của công dân. Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã - Thƣờng trực HĐND - UBND xã và các chức danh công chức chuyên môn, cụ thể: - Thƣờng trực HĐND gồm các chức vụ: Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND.
- UBND gồm các chức vụ: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND (Trƣởng Công an, Chỉ huy trƣởng Ban Chỉ huy Quân sự kiêm nhiệm). - Các chức danh công chức gồm: Trƣởng Công an, Chỉ huy trƣởng Ban Chỉ huy Quân sự, Văn phòng - Thống kê, Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trƣờng (đối với xã) hoặc Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trƣờng (đối với thị trấn), Tài chính - Kế toán, Tƣ pháp - Hộ tịch và Văn hóa - Xã hội. Năng lực thực hiện các chức năng quản lý hành chính Nhà nước cấp xã Theo tác giả Nguyễn Đức Trí và tác giả Nguyễn Văn Tuấn : Năng lực thực hiện (NLTH) là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó. NLTH bao gồm: các kỹ năng cốt lõi (các kỹ năng thông tin, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 13 http://www.vn/ quyết vấn đề, kỹ năng sử dụng công nghệ); có khả năng thích ứng để thay đổi; có khả năng áp dụng kiến thức của mình vào công việc; có khát vọng học tập và cải thiện,.
Tác giả Nguyễn Minh Đƣờng cho rằng: “NLTH là những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để người lao động có thể thực hiện được công việc của nghề đạt chuẩn quy định trong những điều kiện cho trước”. Các định nghĩa về NLTH đƣợc nêu ở trên gắn với sự thực hiện thành công các công việc cụ thể của một nghề theo các chuẩn đƣợc quy định. Do vậy, NLTH có thể đánh giá và lƣợng hóa đƣợc. Kế thừa, phát triển các nghiên cứu của những tác giả đi trƣớc, chúng tôi chọn khái niệm sau làm khái niệm công cụ: NLTH là tổ hợp của các thành tố kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp đảm bảo cho chủ thể thực hành tốt công việc theo chuẩn đầu ra quy định trong những tình huống hoặc nhiệm vụ nghề nghiệp nhất định.
Trong đó, thành tố kỹ năng là yếu tố quan trọng của NLTH.