CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực giao tiếp sư phạm được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu, cho đến nay đã có rất nhiều công. Đã có khá nhiều nhà quản lý, nhà khoa học đề cập tới sự cần thiết phải bồi dưỡng NLGTSP cho giáo viên và chỉ ra mục tiêu, nội dung, hình thức tiến hành hoạt động này, trong đó có thể kể đến một số công trình sau đây.
Raja Roy Sing (1991) trong công trình nghiên cứu với tựa đề “nền giáo dục cho thế kỷ XXI - Những triển vọng của châu Á - Thái Bình Dương” đã khẳng định: Không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó. Do vậy, để phát triển giáo dục, các quốc gia phải làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, qua đó hình thành ở họ phẩm chất, NLSP, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác làm việc, óc phê phán, suy luận và có sáng kiến [20]. Các tác giả Michael Fullan, Andy Hargreaves (2014) trong công trình “Sự phát triển của giáo viên và thay đổi trong giáo dục” đã chỉ ra các cấp độ phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên, đó là: Phát triển các kỹ năng tồn tại; thành thạo các kỹ năng dạy học cơ bản; mở rộng sự linh hoạt chuyên môn; trở thành chuyên gia; có khả năng giúp đồng nghiệp phát triển chuyên môn; tham gia đóng góp vào quyết sách giáo dục. Để đạt đến các cấp độ này giáo viên phải được đào tạo, bồi dưỡng trong suốt quá trình hoạt động sư phạm.
[24] Raza và đồng nghiệp (2018) cũng đưa ra mô hình của Hersey and Blanchard vào ứng dụng phân tích ảnh hưởng của phong các lãnh đạo của giáo viên.Khi đề cập đến chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục, tác giả đã cho rằng: phải có nhiều hình thức, phương pháp bồi dưỡng giáo viên nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững và đưa tới sự thích ứng nhanh của giáo viên với thực tiễn giáo dục. 6 Trong những hình thức, phương pháp bồi dưỡng giáo viên, theo các tác giả, việc bổ sung, cập nhật những kiến thức, kỹ năng, phương pháp dạy học mới phải kết hợp với đúc rút kinh nghiệm sư phạm trong thực tiễn dạy học và tự bồi dưỡng của mỗi giáo viên [21].Almeida và Susana Caires (2007) trong nghiên cứu về khía cạnh tích cực của việc giám sát đào tạo sư phạm: Quan điểm của sinh viên sư phạm đã đi sâu vào nghiên cứu tầm quan trong việc giám sát, kèm cặp, hướng dẫn trong thời gian thực tập của sinh viên sư phạm của các GV tại các nhà trường phổ thông. Chính quá trình này sẽ ảnh hưởng và tác động đến quan điểm hình thành nghề nghiệp cũng như các kinh nghiệm dạy học mà sinh viên sư phạm sẽ học tập được sau khi ra trường. Đội ngũ GV ở các trường thực hành nghề nghiệp là lực lượng quan trọng giúp sinh viên sư phạm hình thành được kỹ năng nghề nghiệp và đánh giá được việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của các bạn sinh viên [23].
Nhìn chung ở nước ngoài có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu của các tác giả khác nhau đề cập đến việc đào tạo sinh viên sư phạm để sau này có đủ kỹ năng về dạy học, kỹ năng giáo dục để phục vụ cho hoạt động giáo dục nhưng ít đề tài nào đề cập trực tiếp đến bồi dưỡng năng lực giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non. Những nghiên cứu này có thể xem là tiền đề quan trọng để đề tài luận văn thực hiện được hướng nghiên cứu của mình. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, bồi dưỡng giáo viên là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cơ quan QLGD và của mỗi cơ sở GD. Mục đích chủ yếu của bồi dưỡng giáo viên là nâng cao trình độ, nghề nghiệp sư phạm cho người giáo viên.
Trong những 7 năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới bồi dưỡng giáo viên, QL bồi dưỡng giáo viên. Trần Công Phong và đồng nghiệp (2019) đã nghiên cứu, cho rằng: tác động của bối cảnh đổi mới giáo dục đến khung năng lực GVMN, yêu cầu “tính chuyên nghiệp” của giáo viên, thực trạng đào tạo và bồi dưỡng…đưa tới đòi hỏi phải nâng chuẩn trình độ đào tạo và kỹ năng nghề nghiệp của GVMN. Vì vậy, tăng cường quản lý nhà nước về giáo viên và nghề dạy học bậc mầm non, thực hiện đổi mới quản lý đào tạo, bồi dưỡng GVMN trong bối cảnh đổi mới giáo dục đang trở thành một nhu cầu cấp thiết [7]. Tác giả Nguyễn Thị Thùy (2018) đã phân tích thực trạng về nhận thức và thực trạng thực hiện các chức năng QL vào hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non.
Tác giả đã đánh giá nhận xét về ưu nhược điểm của QL bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết tác giả chưa đưa ra các biện pháp để khắc phục hạn chế đó [14]. Tác giả Nguyễn Minh Ngọc (2017) với công trình “năng lực giao tiếp của GVMN với trẻ mẫu giáo lớn” đã nghiên cứu trên 4 trường mầm non nội thành Hà Nội (Mầm non Thực hành Hoa Sen, Mầm non Thăng Long Kidsmart, Mầm non Mỹ Đình 1, Mầm non Mai Dịch) và 4 trường Mầm non ngoại thành Hà Nội (Mầm non Di Trạch, Mầm non Tân Hội, Mầm non An Thượng A, Mầm Non Hoa Nắng). Nghiên cứu xác định phạm vi đối tượng nghiên cứu gồm 3 nhóm kỹ năng: Kỹ năng lắng nghe, kỹ năng tự chủ cảm xúc, kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp.
Trong đó, năng lực giao tiếp của GVMN với trẻ mẫu giáo lớn là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm của GVMN vào thực hiện các hành động/ hoạt động lắng nghe, tự chủ cảm xúc và sử dụng các phương tiện giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn có hiệu quả nhằm đạt mục đích giao tiếp đã đề ra”. Theo đó, tác giả này quan niệm: “ Kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm về việc sử dụng trang phục, sử dụng phương tiện ngôn ngữ, phương tiện phi ngôn ngữ của GVMN với trẻ mẫu giáo lớn để đạt được những mục tiêu giáo dục đã đề ra” [6]. 8 Tác giả Nguyễn Thị Bạch Mai (2015) với luận án tiến sĩ “Phát triển đội ngũ GVMN đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi các tỉnh Tây Nguyên” [16] đã cho rằng: Nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp: quy hoạch đội ngũ GVMN, thực hiện tốt việc tuyển chọn, tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sư phạm và kỹ năng giao tiếp, sử dụng tiếng dân tộc, tăng cường kiểm tra, đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp thì đội ngũ GVMN sẽ đảm bảo đủ số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng được yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi. Để thực hiện các giải pháp này, các chủ thể quản lý phải coi trọng quản lý đào tạo, bồi dưỡng theo hướng: Nâng chuẩn trình độ đào tạo; thực hiện bồi dưỡng theo các yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp GVMN; đẩy mạnh bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng theo các chuyên đề và bồi dưỡng kỹ năng sử dụng tiếng dân tộc.
Những nội dung và phương thức tổ chức bồi dưỡng vừa nêu trên, tuy chưa đầy đủ nhưng là những vấn đề cấp bách của bồi dưỡng GVMN, cần được tiếp tục nghiên cứu [5]. Tác giả Lê Thị Bích (2014), nghiên cứu đề tài: “QL hoạt động bồi dưỡng giáo viên trường mầm non thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh theo chuẩn nghề nghiệp ”đã đưa ra nội dung bồi dưỡng giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp và các nội dung QL giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp, từ đó khảo sát thực trạng và đe ra được 6 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non [3]. Qua các công trình nghiên cứu nêu trên và thực tiễn cho thấy, QL hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên được nhiều nhà khoa học, QL và giáo viên quan tâm nghiên cứu. Tuy tiếp cận ở các giác độ khác nhau, song các công trình nghiên cứu đều tập trung vào hai mảng chính đó là nghiên cứu công tác QL hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo cấp học, ngành học và nghiên cứu QL hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo từng cơ sở GD thuộc bậc, cấp, ngành học theo chuẩn nghề nghiệp bằng con đường tổ chức các hoạt động đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.
Qua đó, các công trình nghiên cứu cũng đều đã khẳng định vị trí, vai trò, sự cần thiết và một số biện pháp tiến hành công tác bồi dưỡng và QL hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên tại các cơ sở GD. Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có công trình 9 nghiên cứu nào nghiên cứu về QL hoạt động bồi dưỡng năng lực giao tiếp sư phạm cho giáo viên các trường mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục, đặc biệt là trên địa bàn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Đây là một hướng nghiên cứu mở rộng mà tác giả theo đuổi với mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.
Quản lý Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989) thì: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thê QL đến tập thế những người lao động (nói chung là khách thể QL) nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến” [8]. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2011)cho rằng: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [4]. Trong nghiên cứu của tác giả Đặng Quốc Bảo và cộng sự (2015), khái niệm quản lý là: “Quản lý là một phạm trù của khoa học QL, có sự tác động qua lại của chủ thế QL và khách thể QL, trong đó chủ thể QL đóng vai trò chủ đạo”. Đây là một khái niệm làm cho hoạt động QL vừa mang tính công nghệ, vừa mang tính khoa học và đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ [2].
Hay như Harold Koontz (2010) cho rằng: “Quản lý là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức).