Tổng quan luận án
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của bộ máy Nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Để thực hiện nhiệm vụ này, hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc các bộ, ngành và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giữ vai trò nòng cốt. Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy tại các cơ sở này phụ thuộc trực tiếp vào năng lực sư phạm của đội ngũ giảng viên.
Theo phân tích của tác giả Thiều Huy Thuật, việc dạy học cho cán bộ, công chức mang tính đặc thù cao. Người học phần lớn là những người đã đạt chuẩn trình độ chuyên môn, có vốn kinh nghiệm thực tiễn công tác, có năng lực tự học, tự nghiên cứu và tư duy phản biện. Do đó, phương pháp giảng dạy không thể áp dụng máy móc như đối với học sinh, sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng. Trong khi đó, phần lớn giảng viên tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xuất thân từ các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp chuyển sang, nhiều người không được đào tạo bài bản từ các trường sư phạm nên còn hạn chế về phương pháp và kỹ năng dạy học, thiếu tự tin khi điều khiển lớp học. Công tác bồi dưỡng kỹ năng dạy học tại các cơ sở này còn mang tính hình thức; phương pháp truyền thống (cho dự giờ giảng mẫu rồi tập giảng và góp ý cảm tính) không mang lại hiệu quả cao; trang thiết bị hiện đại (camera, máy chiếu, băng hình) chưa được khai thác đồng bộ cho hoạt động phản hồi sư phạm. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc nghiên cứu áp dụng dạy học vi mô vào quy trình bồi dưỡng kỹ năng giảng dạy cho đội ngũ giảng viên.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập cơ sở lý luận, xây dựng, đề xuất và thực nghiệm quy trình bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô nhằm nâng cao kỹ năng dạy học cho giảng viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Giả thuyết khoa học được xác định: Trong quá trình dạy học ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đối tượng học viên thường đa dạng và mang tính đặc thù riêng, do đó đội ngũ giảng viên thường gặp nhiều khó khăn. Nếu giảng viên ở đây được bồi dưỡng những kỹ năng dạy học phù hợp theo tiếp cận quy trình dạy học vi mô và xác lập được các điều kiện cũng như biện pháp thực hiện quy trình thì sẽ nâng cao chất lượng dạy học ở các cơ sở này.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm 3 nhiệm vụ chính:
- Hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận của bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô.
- Áp dụng quy trình bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô thông qua thực nghiệm sư phạm.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô.
Phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn miền khoa học: Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục (mã số 62.02), tập trung vào lĩnh vực Lý luận dạy học.
- Giới hạn địa bàn khảo sát thực trạng: Tiến hành khảo sát trên cán bộ quản lý, giảng viên và học viên tại 10 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trên cả nước, bao gồm: Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (Bộ Nội vụ); Trường Cán bộ quản lý khoa học và công nghệ; Trường Cán bộ Hội Nông dân Việt Nam; Trường Cán bộ Lê Hồng Phong; Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh; Trường Chính trị Thanh Hóa; Học viện Quản lý giáo dục; Trường Bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh; Trường Cán bộ, quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn 2.
- Giới hạn địa bàn thực nghiệm: Triển khai thực nghiệm sư phạm tại 3 đơn vị: Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Bộ Nội vụ; Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh (Hưng Yên); Trường Cán bộ quản lý khoa học và công nghệ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai mạch nội dung chính: kỹ năng dạy học và tiếp cận dạy học vi mô.
Về nghiên cứu kỹ năng dạy học và bồi dưỡng kỹ năng dạy học:
- Nghiên cứu quốc tế: Những năm 1950, N. Cudơminna với công trình "Hình thành các năng lực sư phạm" đã xác định các năng lực sư phạm cơ bản của người giáo viên và mối quan hệ giữa năng lực chuyên môn với năng lực nghiệp vụ. Đầu những năm 1960, O. Apđuliana trong công trình "Bàn về kỹ năng sư phạm" đã hệ thống hóa lý luận rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, phân tích kỹ năng chung và kỹ năng chuyên biệt. Tiếp đó, các tài liệu như cuốn "Thực hành dạy học" (2006) của A. Duminy và cộng sự, "Sổ tay quản lý lớp học (nghiên cứu, thực tiễn và những vấn đề hiện đại)" (2006) của C. đã làm rõ các kỹ năng dạy học nền tảng.
- Nghiên cứu trong nước: Năm 1996, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (mã số 94-37-46) do Nguyễn Hữu Dũng làm chủ nhiệm nghiên cứu về định hướng đổi mới phương pháp đào tạo giáo viên và hệ thống kỹ năng cần có. Trần Thanh Long nghiên cứu các biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm. Về mặt lý luận khái niệm, các luận án tiến sĩ của Nguyễn Như An và Trần Anh Tuấn đã đưa ra những định nghĩa và cấu trúc thao tác của kỹ năng dạy học.
Về nghiên cứu bồi dưỡng kỹ năng dạy học theo tiếp cận dạy học vi mô:
- Nghiên cứu quốc tế: Dạy học vi mô được khởi xướng từ năm 1960 đến 1963 tại Đại học Stanford bởi Dwight Allen, Ryan cùng các đồng nghiệp gồm Acheson, Bush, Clark, Cooper, Fortune nhằm khắc phục tình trạng đào tạo nặng về lý thuyết, giúp giáo viên mới vào nghề làm chủ lớp học thực tế. Năm 1962–1963, Keith Acheson lần đầu tiên đưa thiết bị ghi hình (video) vào dạy học vi mô để phân tích hành vi giảng dạy. Năm 1968–1969, cuộc điều tra của Blaine Ward ghi nhận 176 trung tâm đào tạo ban đầu và 54 trung tâm đào tạo thường xuyên tại Hoa Kỳ sử dụng kỹ thuật này. Tháng 4/1972, Đại học Tübingen (Đức) tổ chức hội thảo quốc tế với hơn 40 đại biểu từ 12 nước tham dự. Tại Pháp, kỹ thuật này được nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm Saint Cloud và Trường Đại học Sư phạm Lille từ năm 1967, sau đó Ủy ban phối hợp các trường đại học sư phạm (1973) và Ủy ban Média - Formation (1979) tổ chức nhiều cuộc thử nghiệm. Tại Châu Á, Đại học Kuwait và các trường sư phạm ở Tokyo (2003–2004) đã áp dụng dạy học vi mô vào thiết kế lớp học đào tạo giáo viên. Về phân loại, Wagner (1988) đã khái quát 3 viễn cảnh thực hành dạy học vi mô: viễn cảnh ứng xử của Allen và Ryan, viễn cảnh chức năng, và viễn cảnh thăm dò. Bartley (1971) nghiên cứu lý thuyết sửa đổi hành vi bằng sự bắt chước theo một hình mẫu chuẩn.
- Nghiên cứu trong nước: Phương pháp dạy học vi mô xuất hiện tại Việt Nam qua tài liệu dự án Việt - Bỉ của Trần Bá Hoành, Lê Tràng Định, Phó Đức Hòa trong đào tạo môn Tâm lý - Giáo dục học; Đặng Văn Đức và Nguyễn Thu Hằng trong môn Địa lý; tác giả Đặng Thành Hưng (2002) trong công trình "Dạy học hiện đại, lý luận, kỹ thuật, biện pháp". Năm 2013, Trần Thị Thanh Thủy bảo vệ luận án tiến sĩ về rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên sư phạm địa lý bằng dạy học vi mô.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Các công trình trước đây tại Việt Nam chỉ áp dụng dạy học vi mô trong phạm vi hẹp dành cho sinh viên sư phạm (người chuẩn bị vào nghề) hoặc trong phạm vi một bộ môn chuyên biệt. Hoàn toàn chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống hóa lý luận và xây dựng quy trình thực nghiệm dạy học vi mô dành riêng cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức — nhóm đối tượng đặc thù gồm những người đã đi làm, phần lớn thiếu nền tảng sư phạm chính quy và giảng dạy đối tượng học viên trưởng thành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận và các khái niệm khoa học giáo dục:
Quan điểm phương pháp luận:
- Quan điểm hệ thống cấu trúc: Xem việc bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên theo quy trình dạy học vi mô là một hệ thống động toàn vẹn, thống nhất, gồm nhiều khâu có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
- Quan điểm thực tiễn: Xuất phát từ thực trạng dạy học và đối tượng học viên tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện hành để xây dựng quy trình có tính khả thi trong thực tế đào tạo.
Hệ thống khái niệm và khung lý thuyết:
- Kỹ năng: Tác giả tổng hợp hai khuynh hướng tâm lý học của Ph. Crutetxki (kỹ năng là phương thức hành động đã được nắm vững) và N. Pêtrôpxki (kỹ năng là năng lực vận dụng tri thức để thực hiện nhiệm vụ thành công). Luận án xác định cấu trúc kỹ năng gồm 3 yếu tố: tri thức về phương thức và đối tượng hành động; mục đích, nhiệm vụ của hành động; hệ thống thao tác, hành động và phương tiện.
- Phân loại cấp độ kỹ năng theo B.: Gồm 5 mức từ thấp đến cao: Bắt chước -> Làm được -> Chính xác hóa -> Biến hóa -> Tự động - kỹ xảo.
- Kỹ năng cốt lõi: Gồm 6 nhóm: kỹ năng thông tin, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức triển khai, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng sử dụng công nghệ.
- Kỹ năng dạy học: Được định nghĩa là khả năng của người dạy thực hiện có kết quả các hoạt động giảng dạy để đạt mục đích dạy học xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng phương thức hành động phù hợp với người học, điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất định.
- Bản chất và đặc trưng của dạy học vi mô: Chia nhỏ nội dung bài học thành các bài học ngắn, giảng viên thực hiện giảng dạy trong thời gian ngắn (10 đến 20 phút) cho nhóm nhỏ học viên (10 đến 15 người), toàn bộ quá trình được ghi hình, phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm để giảng viên soạn lại giáo án và giảng lại. Cơ sở lý thuyết dựa trên 7 yếu tố: hành động cá nhân, sự lặp lại, sự phát động, sự củng cố, sự tiến triển dần dần, sự chuyển giao phương pháp, và sự học tập cá nhân hóa.
Phương pháp nghiên cứu thực tế và nguồn dữ liệu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu lý luận trong nước, quốc tế về dạy học vi mô.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu thực trạng từ cán bộ quản lý, giảng viên và học viên tại 10 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trên cả nước.
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp giờ giảng và xem lại băng ghi hình bài giảng để ghi nhận hành vi giảng dạy của giảng viên.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Đánh giá giáo án, bài tập, bài thu hoạch và kết quả kiểm tra của người học.
- Phương pháp chuyên gia và phỏng vấn: Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, giảng viên giàu kinh nghiệm, trao đổi tại các hội thảo khoa học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm quy trình bồi dưỡng tại 3 cơ sở đào tạo, so sánh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng qua các giờ giảng và bài kiểm tra đầu vào, đầu ra.
- Phương pháp thống kê toán học: Toàn bộ số liệu khảo sát và điểm số thực nghiệm được xử lý định lượng bằng phần mềm SPSS for Windows.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ hệ thống lý luận về kỹ năng dạy học và việc vận dụng tiếp cận dạy học vi mô vào bồi dưỡng giảng viên. Tác giả phân tích vị trí, chức năng của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và khẳng định vai trò của giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng học tập của đội ngũ công vụ.
Tác giả xác định và phân tích 7 kỹ năng dạy học cơ bản của giảng viên bao gồm:
- Kỹ năng xây dựng hệ thống ngữ liệu cho bài giảng: Lựa chọn ngữ liệu ngôn ngữ khoa học, chân thực, ngắn gọn, sư phạm để minh họa cụ thể cho các khái niệm lý thuyết trừu tượng.
- Kỹ năng lập GRAPH: Sử dụng lý thuyết đồ thị và sơ đồ nhằm mô hình hóa cơ cấu tổ chức tri thức của bài dạy theo hệ thống tầng bậc.
- Kỹ năng xây dựng hệ thống bài tập: Thiết kế bài tập phong phú, gắn lý thuyết với thực tiễn giải quyết công vụ của học viên.
- Kỹ năng phát vấn (đặt câu hỏi): Sử dụng câu hỏi định hướng, kích thích tư duy người học và kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp thu trong tiến trình giờ giảng.
- Kỹ năng tổ chức hoạt động ngoại khóa: Đa dạng hóa các hình thức học tập ngoài giờ chính khóa nhằm mở rộng hiểu biết thực tiễn.
- Kỹ năng tổ chức tình huống vấn đề: Đưa học viên vào các tình huống thực tiễn có vấn đề để chuyển học viên từ trạng thái thụ động sang chủ động phân tích, giải quyết nhiệm vụ.
- Kỹ năng thiết kế bài học: Lập kế hoạch giảng dạy, cấu trúc nội dung gắn với phương pháp truyền đạt sư phạm linh hoạt.
Về quy trình dạy học vi mô, tác giả phân tích chu trình 5 bước cơ bản được chuẩn hóa để vận dụng vào đào tạo bồi dưỡng:
| Bước thực hiện |
Tên bước |
Thời lượng / Quy mô |
Nội dung hoạt động chính |
| Bước 1 |
Giảng dạy (Teach) |
10–20 phút; 10–15 học viên |
Giảng viên thực hiện một đơn vị bài học ngắn có chuẩn bị trước dưới sự quan sát của đồng nghiệp/người hướng dẫn; toàn bộ quá trình được máy camera ghi hình. |
| Bước 2 |
Đánh giá - phản hồi (Feedback) |
Tùy theo thảo luận nhóm |
Giảng viên và đồng nghiệp cùng xem lại băng ghi hình; người dạy tự đánh giá chi tiết; đồng nghiệp và người hướng dẫn nhận xét, phân tích các hành vi sư phạm. |
| Bước 3 |
Soạn lại giáo án (Replan) |
Thực hiện tại phòng riêng |
Giảng viên nghiên cứu các góp ý ở Bước 2, tiến hành chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện lại giáo án cho bài học nhỏ đó. |
| Bước 4 |
Giảng dạy lại (Reteach) |
10–20 phút; nhóm ban đầu hoặc nhóm mới |
Giảng viên giảng dạy lại bài học đã sửa đổi trên cơ sở các kinh nghiệm rút ra từ lần giảng thứ nhất; tiếp tục được ghi hình. |
| Bước 5 |
Đánh giá lại (Refeedback) |
Sau khi kết thúc bài giảng lại |
Xem lại băng ghi hình lần hai, phân tích mức độ tiến bộ, rút ra kết luận sư phạm tổng thể để người dạy hoàn thiện kỹ năng. |
Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 10 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trên phạm vi toàn quốc (đại diện miền Bắc, miền Trung, miền Nam; cấp bộ ngành và cấp tỉnh). Nội dung khảo sát bao gồm: nhận thức của cán bộ quản lý và giảng viên về kỹ năng dạy học, thực trạng năng lực giảng dạy, hình thức bồi dưỡng hiện có và nhận thức về dạy học vi mô.
Kết quả điều tra thực trạng cho thấy:
- Về kỹ năng dạy học của giảng viên: Đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn tốt nhưng kỹ năng sư phạm chưa đồng đều. Khảo sát chỉ ra nhiều giảng viên gặp lúng túng trong việc xử lý tình huống sư phạm, kỹ năng phát vấn và kỹ năng tổ chức tình huống vấn đề chưa đạt hiệu quả cao. Một bộ phận giảng viên thiếu tự tin khi lên lớp, ngại giảng dạy các chuyên đề đòi hỏi tính tương tác cao.
- Về công tác bồi dưỡng kỹ năng dạy học: Hoạt động bồi dưỡng chưa được tiến hành định kỳ và thiếu một quy trình khoa học, thống nhất giữa các đơn vị. Hình thức phổ biến vẫn là dự giờ truyền thống rồi trao đổi góp ý, việc đánh giá còn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người dự giờ mà không có công cụ ghi nhận khách quan.
- Về nhận thức và việc sử dụng dạy học vi mô: Đa số cán bộ quản lý và giảng viên chưa hiểu rõ bản chất, các bước kỹ thuật của dạy học vi mô. Mặc dù các trường đã được trang bị một số thiết bị hiện đại như máy chiếu (projector), máy tính, camera, ti vi, nhưng các phương tiện này chủ yếu phục vụ trình chiếu nội dung bài giảng thông thường chứ chưa được khai thác làm công cụ hồi tiếp thông tin (feedback) để giảng viên tự soi rọi và chỉnh sửa hành vi giảng dạy.
- Khó khăn khi triển khai dạy học vi mô: Khảo sát xác định các rào cản chính gồm thiếu quy trình chuẩn hướng dẫn thực hiện, thiếu phòng học bộ môn chuyên biệt có bố trí camera ghi hình, kinh phí đào tạo hạn hẹp và tâm lý e ngại của giảng viên khi hình ảnh giảng dạy của mình được ghi lại để phân tích công khai.
Chương 3: Thực nghiệm quy trình bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô
Chương 3 triển khai thực nghiệm quy trình bồi dưỡng 5 bước đã xây dựng nhằm kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi. Tác giả tiến hành thực nghiệm tại 3 cơ sở: Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Bộ Nội vụ; Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh (Hưng Yên); Trường Cán bộ quản lý khoa học và công nghệ.
Tiến trình thực nghiệm và kiểm định thống kê:
- Tổ chức các nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) tương đương nhau về số lượng, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác. Nhóm thực nghiệm được bồi dưỡng theo quy trình dạy học vi mô 5 bước; nhóm đối chứng bồi dưỡng theo phương thức truyền thống.
- Tiến hành đo lường giờ giảng ở hai thời điểm: đầu vào (tiết 1, tiết 2) và đầu ra (tiết 1, tiết 2) trên thang điểm quy định. Tác giả sử dụng các tham số thống kê toán học (điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định t-test, đường biểu diễn lũy tích điểm) để so sánh kết quả.
- Dữ liệu kiểm định đầu vào cho thấy sự khác biệt về điểm số giờ giảng giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa thống kê, chứng minh hai nhóm có xuất phát điểm tương đương.
- Dữ liệu đánh giá đầu ra sau khi áp dụng quy trình dạy học vi mô: Điểm số giờ giảng tiết 1 và tiết 2 của nhóm thực nghiệm tăng lên rõ rệt so với đầu vào và vượt trội so với nhóm đối chứng. Tỷ lệ giảng viên đạt xếp loại giờ giảng giỏi ở nhóm thực nghiệm tăng cao; đường lũy tích điểm của nhóm thực nghiệm chuyển dịch hẳn về phía các mức điểm cao.
- Đo lường kết quả học tập của học viên: Học viên học các lớp do giảng viên nhóm thực nghiệm giảng dạy làm bài kiểm tra lần 1 và lần 2. Kết quả thống kê tỷ lệ phần trăm điểm số và đường lũy tích điểm tại cả 3 trường thực nghiệm cho thấy kết quả bài kiểm tra lần 2 của học viên tăng cao hơn hẳn lần 1; giá trị quy mô ảnh hưởng (effect size) khẳng định tác động tích cực của quy trình bồi dưỡng.
- Đánh giá mức độ hứng thú: Kết quả khảo sát thái độ của giảng viên trước và sau thực nghiệm ghi nhận sự thay đổi rõ rệt về mức độ tự tin, tính chủ động và hứng thú tham gia bồi dưỡng kỹ năng dạy học theo tiếp cận ghi hình vi mô.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về kỹ năng dạy học, kỹ năng cốt lõi và đặc trưng của dạy học vi mô trong lĩnh vực bồi dưỡng giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
- Luận án xác lập khung lý thuyết khẳng định dạy học vi mô là phương thức đào tạo dựa trên hành động thực tế, lấy việc chia nhỏ bài giảng và cơ chế phản hồi bằng băng hình làm hạt nhân để giảng viên nhận diện lỗi sư phạm và tự điều chỉnh hành vi.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Phản ánh bức tranh thực trạng về năng lực kỹ năng dạy học của đội ngũ giảng viên và công tác bồi dưỡng kỹ năng tại 10 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trên cả nước, chỉ ra những hạn chế của phương pháp dự giờ truyền thống.
- Xây dựng và thực nghiệm thành công quy trình bồi dưỡng kỹ năng dạy học gồm 5 bước cụ thể (Teach - Feedback - Replan - Reteach - Refeedback) cùng các điều kiện, biện pháp thực hiện đồng bộ tại 3 cơ sở đào tạo.
- Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc các bộ, ngành, các trường chính trị tỉnh, thành phố và các cơ sở trực thuộc Bộ Nội vụ trong việc chuẩn hóa công tác bồi dưỡng giảng viên.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Đối với cơ quan quản lý và các trường đào tạo, bồi dưỡng: Cần ban hành khung tiêu chí thống nhất đánh giá kỹ năng dạy học của giảng viên; đưa quy trình dạy học vi mô vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn thường niên của đơn vị.
- Về cơ sở vật chất: Cần quan tâm đầu tư trang thiết bị công nghệ thông tin, máy quay, phương tiện trình chiếu và phòng học bộ môn chuyên dụng phục vụ việc ghi hình và phân tích giờ dạy vi mô.
- Đối với giảng viên: Cần nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng, khắc phục tâm lý e ngại việc ghi hình giờ giảng để chủ động rèn luyện và nâng cao kỹ năng sư phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát thực trạng dù đã bao quát 10 cơ sở ở ba miền nhưng chưa thể bao trùm toàn bộ hệ thống các trường chính trị cấp tỉnh và các trường đào tạo bồi dưỡng của tất cả các bộ, ban, ngành trên toàn quốc.
- Địa bàn thực nghiệm sư phạm giới hạn tại 3 trường (Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Bộ Nội vụ; Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh; Trường Cán bộ quản lý khoa học và công nghệ), chủ yếu tập trung ở khu vực phía Bắc do giới hạn về nguồn lực và thời gian nghiên cứu.
- Điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại một số cơ sở khảo sát chưa đồng bộ nên việc triển khai dạy học vi mô cần có thời gian chuẩn bị thêm về cơ sở vật chất.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi ứng dụng quy trình dạy học vi mô sang hệ thống đào tạo, bồi dưỡng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập và các chương trình bồi dưỡng ngạch, bậc chuyên viên cao cấp.
- Tiếp tục nghiên cứu, chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá định lượng chi tiết cho từng kỹ năng dạy học thành phần đối với từng chuyên đề giảng dạy lý luận chính trị và quản lý nhà nước đặc thù.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục, Quản lý giáo dục: Tham khảo về phương pháp luận kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát thực trạng diện rộng và thiết kế thực nghiệm sư phạm có sử dụng thống kê toán học (SPSS).
- Giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và các trường chính trị: Tham khảo tài liệu để nắm vững kỹ thuật tự phân tích giờ dạy, quy trình chuẩn bị bài giảng nhỏ, cách rèn luyện 7 kỹ năng dạy học cơ bản (lập ngữ liệu, lập sơ đồ GRAPH, đặt câu hỏi, xây dựng tình huống vấn đề).
- Cán bộ quản lý đào tạo tại các bộ, ngành và Sở Nội vụ các tỉnh: Tham khảo cơ sở thực tiễn và quy trình 5 bước để xây dựng chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm nội bộ, thay thế cách đánh giá giờ giảng truyền thống bằng quy trình phản hồi qua ghi hình.
Câu hỏi thường gặp
-
Tiếp cận dạy học vi mô trong luận án được định nghĩa như thế nào?
Theo tác giả, dạy học vi mô trong bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên là một hình thức dạy học trong đó nội dung bài học được chia thành những bài học ngắn; giảng viên thực hiện những bài học này dưới sự giám sát của đồng nghiệp; quá trình thực hiện được ghi hình, đánh giá, rút kinh nghiệm để giảng viên soạn lại giáo án và thực hiện lại bài học, từ đó chiếm lĩnh và hoàn thiện kỹ năng dạy học.
-
Quy mô lớp học và thời lượng của một bài học vi mô được quy định ra sao?
Trong quy trình thực nghiệm của luận án, mỗi bài giảng vi mô được thiết kế cho một khối lượng người học nhỏ từ 10 đến 15 người (có thể là học viên thực thụ hoặc đồng nghiệp đóng vai) và diễn ra trong thời gian ngắn từ 10 đến 20 phút.
-
Quy trình dạy học vi mô gồm những bước cụ thể nào?
Quy trình gồm 5 bước khép kín: Bước 1: Giảng dạy (Teach); Bước 2: Đánh giá - phản hồi (Feedback); Bước 3: Soạn lại giáo án (Replan); Bước 4: Giảng dạy lại (Reteach); Bước 5: Đánh giá lại (Refeedback).
-
Thực nghiệm sư phạm của luận án được tiến hành tại những cơ sở nào và dùng công cụ gì để xử lý số liệu?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại 3 cơ sở: Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Bộ Nội vụ; Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh (tỉnh Hưng Yên); Trường Cán bộ quản lý khoa học và công nghệ. Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê toán học bằng phần mềm SPSS for Windows.
-
Những hạn chế chính của giảng viên tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được luận án chỉ ra là gì?
Phần lớn giảng viên xuất thân từ cán bộ, công chức, viên chức chuyên môn chuyển sang, không qua đào tạo tại các trường sư phạm nên hạn chế về phương pháp sư phạm, lúng túng trong kỹ năng phát vấn, xây dựng tình huống có vấn đề và nhiều người thiếu tự tin khi điều khiển lớp học có học viên là người có kinh nghiệm thực tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của tác giả Thiều Huy Thuật đã giải quyết vấn đề bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho đội ngũ giảng viên tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thông qua tiếp cận dạy học vi mô. Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận, khảo sát thực trạng tại 10 cơ sở và thực nghiệm sư phạm tại 3 trường, luận án đã xác lập thành công quy trình bồi dưỡng 5 bước có cơ chế phản hồi bằng băng hình. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả của dạy học vi mô trong việc nâng cao kỹ năng sư phạm và sự tự tin của giảng viên, đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác phát triển nguồn nhân lực giảng dạy trong hệ thống đào tạo cán bộ, công chức nhà nước.