Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu địa hình đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, đóng vai trò xung yếu trong cân bằng sinh thái và phát triển kinh tế nông lâm nghiệp. Tuy nhiên, theo các số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích đất trống đồi núi trọc trên toàn quốc đã lên tới khoảng 13 triệu hecta, trong đó khu vực đồi núi chiếm hơn 11 triệu hecta với hơn 500.000 hecta đất bị xói mòn trơ sỏi đá và kết von đá ong hóa hoàn toàn mất khả năng sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt tại khu vực Tây Bắc, độ che phủ rừng có nơi suy giảm nghiêm trọng chỉ còn khoảng 9%, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng an toàn sinh thái quốc tế là 40%. Hoạt động canh tác nương rẫy du canh của khoảng 3 triệu đồng bào dân tộc thiểu số cùng tập quán dọn sạch thực bì đã làm rửa trôi tầng đất mặt, phá hủy cấu trúc đất và suy kiệt hệ vi sinh vật bản địa.

Trước thực trạng thoái hóa nghiêm trọng đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Dương Khôi Khoa tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã đi sâu giải quyết bài toán: "Nghiên cứu biện pháp tạo thảm thực vật bằng vật liệu sinh học nhằm bảo vệ đất dốc". Nghiên cứu hướng đến hai mục tiêu cốt lõi: xây dựng quy trình công nghệ tạo thảm thực vật sử dụng vật liệu sinh học tích hợp nấm rễ nội cộng sinh và bước đầu đánh giá định lượng hiệu quả bảo vệ đất dốc trong điều kiện thực địa. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm từ tháng 4/2017 đến tháng 5/2018 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam và xã Xuân Cẩm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang trên lập địa đất Feralit có độ dốc 5 độ. Kết quả đã chứng minh tính ưu việt vượt trội của giải pháp sinh học khi giúp chiều cao cây chỉ thị tăng 2,07 lần, chỉ số diện tích lá (LAI) tăng 3,38 lần và mật độ bào tử nấm rễ trong đất tăng tới 14,89 lần so với công thức đối chứng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cộng sinh vi sinh vật - thực vật kinh điển do Frank khởi xướng từ năm 1885 và được hoàn thiện bởi các công trình sinh thái đất hiện đại của Smith (1997) và Brundrett (2012). Cốt lõi của khung lý thuyết là cơ chế tương hỗ giữa nấm rễ nội cộng sinh Arbuscular Mycorrhizae (AM/AMF) thuộc ngành Glomeromycota và rễ cây chủ. Trong mối quan hệ này, nấm rễ nhận nguồn cacbon hữu cơ (glucoza, saccaroza) từ quá trình quang hợp của thực vật, đồng thời hệ thống sợi nấm (hyphae) phát triển mở rộng vào đất với mật độ ước tính 1 mét sợi nấm trên 1 cm rễ, làm gia tăng diện tích tiếp xúc và hấp thu dinh dưỡng của bộ rễ lên từ 10 đến 100 lần.

Đặc biệt, hệ sợi nấm tiết ra glycoprotein Glomalin có tính kết dính cao kết hợp axit mùn, giúp kết tụ các hạt đất mịn thành cấu trúc đoàn lạp bền vững, đồng thời sản sinh enzyme phosphatase hòa tan nguồn photpho khó tiêu bị cố định bởi ion sắt và nhôm trong đất Feralit chua, giải phóng 90-95% lượng photpho bị giữ chặt cho cây hấp thụ. Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng lý thuyết vật liệu sinh học (VLSH) của Trần Lê Bảo Hà (2012) và Nguyễn Như Hà (2011), định hình cấu trúc vật liệu gồm ba thành phần phối trộn cân đối: giống nấm rễ cộng sinh tuyển chọn, chất nền giá thể đất phù sa cũ Gia Lâm sàng qua rây 2-5 mm, và chất phụ gia dinh dưỡng NPK 15-0-15 tỷ lệ 15-20 g/kg vật liệu nhằm tạo môi trường bảo tồn hoạt tính vi sinh tối ưu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình thực nghiệm nghiêm ngặt kết hợp giữa phòng thí nghiệm và hiện trường đồng ruộng theo dòng thời gian 13 tháng (từ tháng 4/2017 đến tháng 5/2018):

  • Quy mô và phương pháp bố trí thí nghiệm: Tại thực địa Bắc Giang, thí nghiệm đánh giá hiệu quả phục hồi thảm thực vật được bố trí ngẫu nhiên trên diện tích 100 m2 cho mỗi công thức (gồm CT1: Đối chứng không dùng VLSH, bón dinh dưỡng tương đương; CT2: Xử lý VLSH liều lượng 50 g/m2) trên nền đất Feralit dốc 5 độ. Thí nghiệm đánh giá màng che phủ đất được thiết kế song song trên các ô tiêu chuẩn 10 m2.
  • Phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống tại 5 điểm chuẩn cố định (4 góc và 1 tâm ô thí nghiệm) với 5 cây đo đếm lặp lại hàng tuần để tính giá trị trung bình về chiều cao cây, số lá kép, diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI). Tỷ lệ che phủ bề mặt được quan trắc trực tiếp định kỳ từ tuần 3 đến tuần 8.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Mật độ bào tử nấm AM được xác định bằng phương pháp sàng ướt của Linderman (1963) và phương pháp đo đếm trực tiếp theo Brundrett (1991); tỷ lệ xâm nhiễm rễ được định lượng bằng phương pháp phóng đại ô giao nhau của McGonigle (1991). Các chỉ tiêu nông hóa đất được phân tích chuẩn hóa theo hệ thống Tiêu chuẩn Quốc gia: Nitơ tổng số theo TCVN 6498:1999 (phương pháp Kjeldahl), Phốt pho tổng số theo TCVN 4052:1985 (phương pháp so màu), Kali tổng số theo TCVN 4053:1985 (quang kế ngọn lửa), Cacbon hữu cơ tổng số (OC) theo TCVN 6644:2000 (Walkley & Black), pH đất theo TCVN 4402:1987 và độ ẩm đất theo TCVN 1867:2001. Dữ liệu thô được xử lý thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình sàng lọc, thử nghiệm và đánh giá thực nghiệm đã ghi nhận 4 phát hiện khoa học quan trọng:

  1. Xác định được 2 chủng nấm rễ nội cộng sinh ưu việt và cây chủ nhân giống lý tưởng: Hai chủng nấm rễ nội sinh kế thừa từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh (2016) gồm Gigaspora sp6 (kích thước bào tử 300-425 µm, tỷ lệ nảy mầm 90%) và Dentiscutata nigra (kích thước bào tử 240-320 µm, tỷ lệ nảy mầm 80%) có phổ thích nghi sinh thái rất cao trên đất phù sa cũ và đất bạc màu. Cây đậu xanh (Vigna radiata) được chứng minh là cây chủ nhân giống nấm rễ tốt nhất sau 30 ngày thử nghiệm: mức độ xâm chiếm rễ của Gigaspora sp6 đạt 21,32% (gấp 13,16 lần đối chứng) và Dentiscutata nigra đạt 18,37% (gấp 11,34 lần đối chứng); mật độ bào tử sinh ra trong đất lần lượt đạt 27,44 và 25,09 bào tử/100g đất (gấp 7,71 và 7,05 lần đối chứng). Chiều dài rễ cây đậu xanh xử lý nấm tăng vượt bậc 1,52 đến 1,59 lần.
  2. Tuyển chọn cây đậu mèo (Mucuna pruriens) làm cây chỉ thị phục hồi đất dốc: Trong phép thử nảy mầm 7 ngày so sánh với cỏ Stylo, Paspalum và Ruziensis, hạt đậu mèo thể hiện ưu thế tuyệt đối với tỷ lệ nảy mầm đạt 99% chỉ sau 3 ngày, chiều dài rễ đạt 3,0 cm, tán lá rộng tạo tầng thảm tươi dày 40-50 cm có khả năng sinh khối nhanh và chống chịu khô hạn hoàn hảo.
  3. Độ ổn định lý hóa sinh của vật liệu sinh học trong bảo quản: Vật liệu sinh học sau phối trộn duy trì ổn định độ ẩm 20-24%, pH dao động từ 5,30 đến 5,46, hàm lượng đạm tổng số đạt 0,20-0,24%, kali tổng số đạt 0,97-1,02% và mật độ bào tử AM đạt ngưỡng ổn định 1003-1016 bào tử/100g vật liệu sau 6 tháng bảo quản ở điều kiện nhiệt độ 4-8 độ C.
  4. Hiệu lực tạo thảm thực vật vượt trội ngoài thực địa: Trên đất dốc 5 độ tại Bắc Giang, sau 8 tuần thử nghiệm, công thức sử dụng VLSH kết hợp cây đậu mèo cho chiều cao cây vượt trội gấp 2,07 lần và chỉ số diện tích lá (LAI) gấp 3,38 lần so với đối chứng. Màng che phủ đất kết hợp đạt độ phủ xanh bề mặt 56,18% tại tuần 8, trong khi đối chứng không màng che phủ chỉ đạt dưới 5,00%.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả tăng trưởng sinh khối vượt trội của cây đậu mèo tại công thức xử lý VLSH bắt nguồn từ sự hình thành nhanh chóng mạng lưới sợi nấm nội cộng sinh trong tầng rễ. Các giác mút nhánh (Arbuscules) và túi chứa lipid (Vesicles) phân nhánh dày đặc bên trong mô vỏ rễ đã tối ưu hóa quá trình trao đổi ion khoáng và nước. Các phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các công bố quốc tế của Marumoto (1997) trong việc phục hồi thảm thực vật sườn dốc núi lửa tại Nagasaki (Nhật Bản) và Mike Amaranthus (2001) trong việc củng cố thảm cỏ đồi dốc tại California (Mỹ).

Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu khi được biểu diễn qua biểu đồ đường động thái tăng trưởng chiều cao và chỉ số LAI theo thời gian 8 tuần cho thấy độ dốc đường sinh trưởng của công thức VLSH phân kỳ mạnh mẽ kể từ tuần thứ 4 trở đi. Điều này chứng minh giai đoạn sau 30 ngày là thời điểm hệ nấm rễ đã thiết lập cộng sinh hoàn chỉnh, bắt đầu cung cấp dưỡng chất liên tục cho cây chủ. Về mặt nông hóa học đất thể hiện qua bảng so sánh đa chỉ tiêu, hàm lượng mùn và N, P, K tổng số trong đất sau 8 tuần chưa có sự biến động lớn do thời gian thí nghiệm ngắn, tuy nhiên số lượng bào tử nấm rễ hữu hiệu trong đất thí nghiệm đã tăng vọt lên gấp 56,6 lần so với trước thí nghiệm và gấp 14,89 lần so với công thức đối chứng không sử dụng VLSH. Đây là chỉ số sinh học then chốt bảo đảm đất đã phục hồi khả năng tự dưỡng và chống chịu xói mòn lâu dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp công nghệ và quản lý cụ thể nhằm nhân rộng mô hình:

  1. Chuẩn hóa và thương mại hóa quy trình sản xuất vật liệu sinh học nấm rễ: Đơn vị nghiên cứu và các doanh nghiệp công nghệ sinh học nông nghiệp cần phối hợp hoàn thiện dây chuyền sản xuất VLSH với định mức tiêu chuẩn: sử dụng giá thể đất phù sa cũ Gia Lâm sàng rây 2-5 mm, phối trộn 2000 bào tử AM (Gigaspora sp6Dentiscutata nigra)/kg vật liệu cùng 15-20g phân NPK 15-0-15. Đảm bảo sản phẩm xuất xưởng có độ ẩm 20-25%, mật độ vi sinh trên 1000 bào tử/100g, thời hạn bảo quản đạt tối thiểu 6 tháng tại nhiệt độ 4-8 độ C; lộ trình triển khai hoàn thiện trong giai đoạn 2019-2020.
  2. Áp dụng đồng bộ quy trình 3 bước phục hồi thảm thực vật trên đất dốc: Các Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật cùng chính quyền địa phương cần hướng dẫn người dân triển khai đúng quy trình kỹ thuật gồm: Bước 1 - Kiểm tra chất lượng và kích hoạt VLSH; Bước 2 - Phối trộn hạt giống đậu mèo tỷ lệ nảy mầm trên 90% với liều lượng vật liệu 50 g/m2; Bước 3 - Trải màng che phủ sinh học giữ ẩm chống xói trôi. Mục tiêu đạt độ che phủ xanh trên 60% bề mặt sườn dốc 5-15 độ sau 6-8 tuần thi công; thực hiện hàng năm vào đầu mùa mưa (tháng 3 đến tháng 5).
  3. Tích hợp giải pháp sinh học vào các dự án giao thông và thủy lợi: Các Ban quản lý dự án công trình giao thông và thủy lợi cần áp dụng công nghệ phun phủ VLSH nấm rễ kết hợp hạt đậu mèo và màng xơ dừa để gia cố mái taluy đường đèo, bờ kênh đập dốc nhằm giảm xói lở đất trên 80% so với biện pháp để cỏ mọc tự nhiên; áp dụng từ quý II/2019.
  4. Bổ sung giải pháp thảm phủ sinh học vào khung chính sách lâm nghiệp quốc gia: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần nghiên cứu đưa quy trình tạo thảm thực vật bằng vật liệu sinh học vào các quy phạm kỹ thuật phục hồi rừng (sửa đổi, bổ sung QPN 14-92 và QPN 21-98) nhằm hỗ trợ các chương trình phủ xanh 11 triệu hecta đất trống đồi núi trọc thích ứng với biến đổi khí hậu; lộ trình thực hiện giai đoạn 2020-2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Nông học, Thổ nhưỡng học: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo chuẩn xác về phương pháp phân lập, nhân sinh khối nấm rễ nội sinh AM (Gigaspora sp6, Dentiscutata nigra), kỹ thuật sàng ướt xác định bào tử và quy trình bố trí thí nghiệm sinh thái đồng ruộng trên đất dốc Feralit.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các Chi cục Kiểm lâm, Trung tâm Khuyến nông và Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh miền núi: Nắm vững giải pháp kỹ thuật chi phí thấp, dễ triển khai để chuyển giao cho người dân địa phương áp dụng phủ xanh đất nương rẫy thoái hóa, đất đồi trọc trơ sỏi đá và phòng chống sạt lở đất cục bộ.
  • Các kỹ sư công nghệ môi trường và doanh nghiệp sản xuất phân bón vi sinh, vật liệu sinh thái: Khai thác chi tiết công thức phối trộn giá thể chất nền vô cơ - hữu cơ, tỷ lệ hoạt chất NPK và thông số kiểm soát chất lượng vật liệu sinh học giữ được hoạt tính trên 6 tháng phục vụ phát triển sản phẩm thương mại.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan quản lý dự án phát triển nông thôn bền vững: Sử dụng số liệu định lượng (LAI tăng 3,38 lần, chiều cao tăng 2,07 lần) làm cơ sở khoa học xây dựng đề án thích ứng biến đổi khí hậu, phục hồi sinh thái lưu vực đầu nguồn và tạo sinh kế nông lâm kết hợp cho đồng bào vùng cao.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao nấm rễ Arbuscular Mycorrhizae lại giúp cây trồng sinh trưởng vượt trội trên đất dốc nghèo dinh dưỡng?

Nấm rễ AM thiết lập mạng lưới sợi nấm ngoại bào mở rộng ra hàng ngàn centimet, giúp gia tăng bề mặt hấp thu nước và dinh dưỡng của rễ cây từ 10 đến 100 lần. Đặc biệt, nấm tiết ra enzyme phosphatase chuyển hóa lượng photpho khó tiêu chiếm 90-95% trong đất thành dạng hòa tan, đồng thời cung cấp các hormone sinh trưởng tự nhiên (Auxin, Cytokinin, Gibberellin) giúp cây chống chịu khô hạn hiệu quả.

Tại sao cây đậu xanh được chọn để nhân giống nấm rễ nhưng cây đậu mèo lại được chọn để tạo thảm thực vật ngoài thực địa?

Cây đậu xanh (Vigna radiata) có chu kỳ sinh trưởng ngắn (65-70 ngày), rễ phát triển nhanh, tạo mức độ xâm chiếm rễ đạt 21,32% và sản sinh mật độ bào tử cao nhất (27,44 bào tử/100g đất) nên tối ưu cho việc nhân giống nấm rễ trong phòng thí nghiệm. Trong khi đó, cây đậu mèo (Mucuna pruriens) có sức sống hoang dại dẻo dai, nảy mầm 99% sau 3 ngày, thân leo bò tạo thảm tươi dày 40-50 cm, chịu hạn và chịu đất chua Feralit cực tốt, thích hợp nhất để phủ kín và giữ đất dốc ngoài tự nhiên.

Màng che phủ đất đóng vai trò gì trong công nghệ tạo thảm thực vật bằng vật liệu sinh học?

Màng che phủ đất có cấu trúc lớp giữ ẩm ở giữa và lưới bảo vệ bên ngoài, giúp ngăn chặn hiện tượng mưa xói mòn trôi hạt giống và rửa trôi lớp vật liệu sinh học trên sườn dốc 5 độ. Thực nghiệm chứng minh màng che phủ giúp duy trì độ ẩm ổn định, đưa tỷ lệ che phủ bề mặt đạt 56,18% ở tuần thứ 8, trong khi đất để trống không màng che phủ chỉ đạt dưới 5,00%.

Vật liệu sinh học nấm rễ sau khi sản xuất có thể bảo quản và giữ được hiệu lực trong bao lâu?

Theo kết quả phân tích theo dõi tại các mốc thời gian 0, 3 và 6 tháng, vật liệu sinh học bảo quản ở nhiệt độ 4-8 độ C duy trì độ ẩm rất ổn định ở mức 20-24%, pH đạt 5,30-5,46 và mật độ bào tử nấm AM luôn đạt ngưỡng trên 1000 bào tử/100g vật liệu. Do đó, vật liệu sinh học đạt chuẩn có thời hạn sử dụng tối ưu trong vòng 6 tháng và tối đa lên đến 1 năm.

Biện pháp xử lý vật liệu sinh học có làm thay đổi ngay lập tức các chỉ tiêu hóa học của đất dốc không?

Sau 8 tuần thử nghiệm ngắn hạn, các chỉ tiêu hóa học tổng số của đất như N, P, K và cacbon hữu cơ (OC) chưa thể hiện sự biến đổi rõ rệt. Tuy nhiên, chỉ tiêu sinh học đất đã có bước nhảy vọt mang tính quyết định: số lượng bào tử nấm rễ có ích trong đất ở công thức sử dụng VLSH tăng gấp 56,6 lần so với ban đầu và cao gấp 14,89 lần so với đối chứng, tạo nền tảng sinh học vững chắc để cải tạo độ phì nhiêu đất lâu dài.

Kết luận

  • Luận văn đã phân lập, tuyển chọn thành công 2 chủng nấm rễ nội cộng sinh ưu việt (Gigaspora sp6Dentiscutata nigra) có tỷ lệ nảy mầm đạt 80-90% và hoàn thiện công thức sản xuất vật liệu sinh học chất lượng cao với mật độ trên 1000 bào tử/100g, ổn định suốt 6 tháng bảo quản.
  • Xác lập cây đậu xanh (Vigna radiata) là cây chủ nhân sinh khối nấm rễ tối ưu (mức độ xâm chiếm rễ đạt 21,32%) và cây đậu mèo (Mucuna pruriens) là loài cây chỉ thị lý tưởng ngoài thực địa (tỷ lệ nảy mầm 99%, tạo thảm tươi dày 40-50 cm).
  • Xây dựng thành công quy trình công nghệ 3 bước phục hồi thảm thực vật bằng vật liệu sinh học (liều lượng 50 g/m2) tích hợp màng che phủ đất chuyên dụng trên lập địa đất dốc 5 độ.
  • Chứng minh hiệu quả sinh học vượt bậc sau 8 tuần thực nghiệm tại Bắc Giang: chiều cao cây tăng gấp 2,07 lần, chỉ số LAI tăng gấp 3,38 lần, độ che phủ đạt 56,18% và mật độ bào tử nấm rễ trong đất tăng gấp 14,89 lần so với đối chứng.
  • Đề tài mở ra hướng tiếp cận sinh học đột phá, bền vững và chi phí thấp để bảo vệ, cải tạo hơn 11 triệu hecta đất dốc thoái hóa tại Việt Nam; các đơn vị quản lý tài nguyên và nghiên cứu sinh học nông nghiệp hãy chủ động kết nối và ứng dụng ngay quy trình công nghệ này vào các dự án phủ xanh đất trống đồi núi trọc trong giai đoạn tới.