CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ, THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ 1. Tổng quan về khu công nghiệp, khu kinh tế 1. Khái niệm về khu công nghiệp, khu kinh tế Khái niệm về khu công nghiệp bắt đầu xuất hiện ở châu Á vào đầu thế kỷ 19 dưới hình thức hải cảng tự do. Sau đó nó còn xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: khu mậu dịch tự do, đặc khu kinh tế… Khu công nghiệp có thể được hiểu là một khu vực địa lý được phân chia và phát triển một cách có hệ thống, theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp các dịch vụ kỹ thuật cần thiết, cơ sở hạ tầng phù hợp với sự phát triển của một liên hợp ngành công nghiệp và sản phẩm không nhất thiết phải xuất khẩu.
Hay theo nghĩa rộng thì KCN bao gồm tất cả các khu vực được Chính phủ nước sở tại cho phép chuyên môn hóa sản xuất công nghiệp. KCN là khu biệt lập có chế độ mậu dịch và thuế quan riêng, không phụ thuộc vào chế độ mậu dịch và thuế quan phổ thông ở nước đó. Theo Luật đầu tư năm 2014: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”; “Khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh”.2] Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”; “Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”. 4 Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế.2] Theo Nghị định trên, một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10 ngàn hecta (100 km²), có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, có khả năng phát huy tiềm năng tại chỗ và tạo ảnh hưởng phát triển lan tỏa đến các khu vực xung quanh, không tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn thiên nhiên; không gây ảnh hưởng xấu và làm tổn hại đến các di sản văn hóa vật thể, danh lam thắng cảnh, các quần thể kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học; phù hợp với bố trí quốc phòng và đảm bảo quốc phòng, an ninh; có điều kiện đảm bảo yêu cầu về môi trường, môi sinh và phát triển bền vững.
Đặc điểm của KCN, KKT Ở các nước khác nhau KCN có sự khác nhau về quy mô, địa điểm và phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng. Ngày nay, các KCN đã xuất hiện phổ biến tại hầu hết các quốc gia và đang phát triển hết sức mạnh mẽ. Nhưng nói chung các KCN, KKT đều có những đặc điểm chung sau đây: Thứ nhất, về tính chất hoạt động: Ở Việt Nam, các KCN, KKT do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, phát huy lợi thế của từng địa phương trong việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng (các KCN, KKT ven biển, KKT cửa khẩu.) có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia, tạo điều kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp. Doanh nghiệp trong các KCN có thể là doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các bên 5 tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp này và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tại những nơi không có dân cư, tập trung lại tạo thành các KCN. Hay nói cách khác KCN là nơi xây dựng để thu hút các đơn vị sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc các đơn vị kinh doanh dịch vụ gắn liền với sản xuất công nghiệp. Các lĩnh vực mà các doanh nghiệp này được quyền kinh doanh cụ thể như: nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới; xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng; sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu dùng ở trong nước. Thứ hai, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường xá, hệ thống điện nước, điện thoại… được thuận lợi thì các KCN, KKT đều cần được xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phù hợp.
Thông thường việc phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN, KKT do một công ty xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đảm nhiệm. Ở Việt Nam những công ty này là các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc các doanh nghiệp trong nước tự thực hiện. Các công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng sau đó được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại hoặc bán lại cho đơn vị khác để kinh doanh theo pháp luật về đầu tư. Mục tiêu và vai trò của KCN, KKT đối với nền kinh tế 1.
Mục tiêu Sự hình thành và phát triển các KCN, KKT trên thế giới gắn liền với những mục tiêu của các nước thành lập KCN, KKT và những mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài. Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài : - Giảm chi phí sản xuất sản phẩm bằng cách tận dụng các yếu tố sản xuất rẻ ở các nước đang phát triển. 6 Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế các nước phát triển, nhất là đầu những năm 60, đã vấp phải khó khăn về nguồn lao động ở các nước đó. Khi tại các nước này, nguồn nhân công tiền lương thấp ngày một khan hiếm, giá lao động, chi phí bảo hiểm xã hội ngày một tăng, đã thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia nhanh chóng quyết định chuyển ngành công nghiệp có hàm lượng lao động sống cao sang các bước đang phát triển.
Thêm vào đó, giá đất ngày càng cao, sự phát triển của các ngành dùng nhiều nguyên liệu, công nghiệp tiêu chuẩn hoá như ở cơ khí chế tạo, sản xuất cấu kiện. không đòi hỏi trình độ công nghệ cao tại các nước tư bản phát triển tỏ ra không còn hiệu quả do các khoản chi phí vận chuyển nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài ngày càng tăng, làm giảm khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới. Điều này có thể giúp chúng ta lý giải vì sao các công ty đa quốc gia lại thường đầu tư vào các ngành công nghiệp nhẹ, chế biến, lắp ráp; như dệt, may mặc, điện tử, sản xuất kim khí, hoá chất. ở các KCN của các nước đang phát triển.
- Tránh hàng rào thuế quan được Chính phủ bảo hộ, mậu dịch của các nước đang phát triển, tận dụng các chính sách ưu đãi về thuế, (nhất là thuế sử dụng đất, thuế tài nguyên, thuế XNK, thuế thu nhập doanh nghiệp.) và các ưu đãi khác của các nước này, nhằm tăng cường lợi ích của các công ty xuyên quốc gia. - Bảo vệ môi trường của các nước phát triển. Sự phát triển ở đầu tư của các ngành công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp nhiều phế thải đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường không kiểm soát nổi ở các nước phát triển, làm cho chi phí bảo vệ môi trường ngày càng tăng. Xu hướng chung của các công ty xuyên quốc gia là muốn chuyển các ngành công nghiệp này sang các nước đang phát triển để bảo vệ môi trường nước họ và giảm chi phí sản xuất.
- Tạo địa bàn hoạt động và thực hiện chiến lược phát triển lâu dài. Khi đầu tư ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào KCN, các công ty tư bản nước ngoài muốn mở rộng địa bàn hoạt động tạo chỗ đứng, chuẩn bị cho những bước đi lâu dài trong chiến lược phát triển của họ. Đầu tư của các nước 7 phương Tây, Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông vào Trung Quốc là điển hình của xu hướng đó. Mục tiêu của nước thành lập: Trong khi các doanh nghiệp nước ngoài tìm kiếm lợi ích của mình thông qua các động cơ không cần che dấu đó, thì các nước tiếp nhận đầu tư cũng cố gắng đạt được những mục tiêu chiến lược của mình thông qua việc thành lập các KCN, KKT.
Ở đây khó có thể đề cập đến mục tiêu của từng nước đang phát triển, bởi lẽ mỗi nước trong mỗi khu vực có những điều kiện và mục tiêu phát triển riêng. Song nếu phân tích từ giác độ vĩ mô, có thể tóm lại mục tiêu cơ bản và thống nhất của các nước này là như sau: - Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Đây là mục tiêu quan trọng nhất của KCN, KKT. Với tính chất là “vùng lãnh thổ” hoạt động theo quy chế riêng trong môi trường đầu tư chung của cả nước, KCN, KKT trở thành công cụ hữu hiệu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để mở mang hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu vực và đạt tới tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của cả nền kinh tế. - Các nước chủ nhà, trong nhiều trường hợp, đã thông qua KCN, KKT như một cầu nối trung gian để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các phần lãnh thổ còn lại của đất nước.
- Mở rộng hoạt động ngoại thương: Thông qua việc thành lập KCN, KKT nước chủ nhà muốn đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước.