Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Quá trình đổi mới và cải cách giáo dục ở Việt Nam trong thời gian qua Cùng với quá trình đổi mới đất nước, cải cách giáo dục ngày càng rõ nét và được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, từ khi Quốc hội ban hành Luật Giáo dục và Chính phủ thông qua Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010, công cuộc cải cách giáo dục mới thực sự đi vào cuộc sống với nhiều giải pháp đồng bộ và cụ thể.
Quá trình cải cách giáo dục ở Việt Nam bắt nguồn từ yêu cầu của quá trình đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập mở cửa, phát triển kinh tế tri thức. Hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, trong khi năng lực cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp còn ở mức rất thấp. Đó là những khó khăn, thách thức lớn nhất của Việt Nam. Hội nhập sẽ tạo điều kiện để Việt Nam thâm nhập vào thị trường quốc tế, ngược lại Việt Nam cũng sẽ mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư và hàng hóa nước ngoài.
Tác động này cùng với việc xóa bỏ các chính sách chế độ phân biệt đối xử buộc nền kinh tế của Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam phải đứng trước một áp lực cạnh tranh lớn. Việc vượt qua được áp lực cạnh tranh đó, tuỳ thuộc phần lớn vào khả năng đổi mới công nghệ, đổi mới cơ chế quản lý và chất lượng nguồn lao động của quốc gia. Nếu những khả năng này không được chú ý và biến chúng thành hiện thực thì trong cuộc cạnh tranh Việt Nam không những bị yếu thế trên thị trường quốc tế mà ngay trên thị trường nội địa khi nền kinh tế hội nhập mở cửa. Trong xu thế hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, với một nền kinh tế tri thức đã và đang tác động nhiều 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đó là hai yếu tố chính đặt ra những yêu cầu mới cho công cuộc cải cách nền giáo dục ở Việt Nam.
Sự phát triển của hệ thống giáo dục đào tạo một mặt bị tác động, chi phối và một mặt khác cũng góp phần thúc đẩy các xu hướng phát triển chung của đời sống xã hội hiện đại, thể hiện ở sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ tương tác giữa giáo dục đào tạo với các thành tố trong xã hội Công nghệ Tài chính - hàng hóa tiền tệ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Thông tin, tri thức Nhân lực Văn hóa KH-CN - Về phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế đặc biệt là phát triển nền kinh tế tri thức đòi hỏi một đội ngũ nhân lực có trình độ cao. Ngược lại, quá trình phát triển kinh tế tạo ra các nguồn lực mới để mở rộng mạng lưới và hiện đại hoá giáo dục đào tạo. - Về văn hoá và các giá trị văn hoá: Nền tảng văn hoá tạo cơ sở cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục và ngược lại hoạt động giáo dục có tác động to lớn trong quá trình phát triển văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc, hội nhập và giao lưu quốc tế. - Về khoa học công nghệ: Các kết quả và công trình nghiên cứu của các cơ sở giáo dục - đào tạo góp phần tích cực thúc đẩy tiến bộ khoa học công 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghệ và ngược lại tiến bộ khoa học công nghệ tác động trở lại trong việc đổi mới và hiện đại hoá mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, tăng cường năng lực đào tạo, nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đào tạo nói chung.
- Xu hướng toàn cầu hoá: Trong quá trình toàn cầu hoá, giáo dục đào tạo là một dịch vụ mang tính toàn cầu thông qua các hoạt động trao đổi, hợp tác đào tạo giữa các cơ sở giáo dục đào tạo trong và ngoài nước. Toàn cầu hoá tạo ra nhiều cơ hội cho giáo dục đào tạo Việt Nam gia nhập sân chơi quốc tế đồng thời cũng có nhiều thách thức như chất lượng, khả năng cạnh tranh. Phát triển nhảy vọt và mạnh mẽ của khoa học công nghệ, phát triển kinh tế tri thức trên toàn cầu tạo ra nhu cầu, cơ hội và điều kiện để phát triển giáo dục đào tạo cả về quy mô và chất lượng. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế tạo điều kiện tăng cường hợp tác để học tập, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao và tiếp nhận công nghệ đào tạo tiên tiến.
Sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và truyền thông tạo điều kiện rất thuận lợi để tìm kiếm, trao đổi, xử lý thông tin phục vụ dạy, học, nghiên cứu. Bối cảnh quốc tế đòi hỏi các quốc gia đang phát triển phải sớm đại chúng hóa, kinh tế hóa, hiện đại hóa và quốc tế hóa giáo dục đào tạo. Nhận thức sâu sắc về tác động to lớn của giáo dục - đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thấy rõ những yêu cầu mới đặt ra đối với giáo dục trong điều kiện nền kinh tế tri thức đã và đang tác động nhiều chiều ở tất cả các nền kinh tế hội nhập, mở cửa, trong đó có nền kinh tế Việt Nam, ngay sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng và Chính phủ đã đặc biệt quan tâm đến nền giáo dục- đào tạo của nước nhà. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 khoá VII năm 1993 đã ra nghị quyết về "tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo" với bốn quan điểm chủ yếu là: Thứ nhất, GD-ĐT là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước, phải coi đầu tư cho giáo dục là hướng chính của đầu tư phát triển.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, mục tiêu giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp. Mở rộng quy mô đào tạo, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức. Thứ ba, GD-ĐT phải gắn với yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. Thứ tư, đa dạng hoá các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001), đã chỉ rõ "phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" [17, tr. Lần đầu tiên, vấn đề phát triển giáo dục – đào tạo được coi là nội dung của phát triển kinh tế và được đặt trong đường lối kinh tế và chiến lược phát triển - tức là thuộc phạm trù phát triển kinh tế. Đây là quan điểm và định hướng rất mới của Đảng ta về giáo dục - đào tạo. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Bởi vì, nội dung và bản chất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển kinh tế không chỉ là mở rộng quy mô nền kinh tế, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Những tư tưởng, quan điểm định hướng của Đảng, Nhà nước về giáo dục - đào tạo nêu trên là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chỉ đạo, điều hành các hoạt động liên quan đến dạy và học của nhà trường. Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp có vị trí rất quan trọng của xã hội, là nơi đào tạo nguồn nhân lực có tri thức và sẽ làm việc bằng tri thức. Lực lượng lao động này không những thực thi công việc một cách chủ động, sáng tạo, mà còn có khả năng hoạch định các chính sách quản lý các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.
Đảng ta đã khẳng định nguồn lực con người là nguồn lực 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển lớn nhất ở nước ta hiện nay và muốn đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì phải xem "giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu". Phải ưu tiên đầu tư cho phát triển giáo dục - đào tạo để ngành này đi trước một bước so với mức độ phát triển kinh tế - xã hội hiện có, để có thể đóng vai trò là cơ sở và động lực chủ yếu, hàng đầu đối với sự phát triển của đất nước. Đó là vấn đề thời cơ, thách thức đối với Giáo dục - Đào tạo Việt Nam xuất phát chính từ yêu cầu bên trong của nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nước ta - môi trường kinh tế - xã hội của giáo dục. Những đổi mới quản lý tài chính trong tổng thể đổi mới của ngành giáo dục - đào tạo và hệ thống văn bản pháp qui về quản lý tài chính trong các trường đại học, cao đẳng.
Cải cách tài chính là một trong những nội dung quan trọng trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 được Chính phủ phê duyệt tháng 12/2001 với những định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và biện pháp cụ thể để phát triển kinh tế – xã hội và giáo dục ngay trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Nhà nước đã rất nỗ lực và không ngừng đổi mới cơ chế quản lý tài chính nhằm liên tục nâng cao mức độ hoàn thiện của nó nhằm tạo ra những tiền đề thuận lợi cho công cuộc cải cách tài chính ở qui mô rộng và chất lượng cao, sau khi kết thúc thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI này. Sau nhiều năm nghiên cứu đánh giá thực trạng về xây dựng thể chế trong quản lý tài chính; kết hợp với những bài học kinh nghiệm của các nước trong lĩnh vực quản lý tài chính, Nhà nước ta đã quyết định nâng tầm pháp lý của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dành cho quản lý tài chính ngày một cao hơn.