phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương. Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng. Thực trạng công tác quản lý sinh viên của Phòng Tổ chức - Công tác học sinh sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn (giai đoạn 2005-2010). Một số biện pháp quản lý sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay.
4 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu Chúng ta đã biết lịch sử phát triển giáo dục luôn gắn với lịch sử phát triển của loài người. Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục và từ đó cũng dần dần xuất hiện, phát triển khoa học về quản lý giáo dục. Ở Việt Nam tuy khoa học quản lý GD còn là một ngành khoa học mới mẻ, song được sự quan tâm nghiên cứu và bước đầu đã có sự phát triển nhanh cả về lý luận và thực tiễn.
Người học là nhân vật trung tâm của nhà trường, là một trong những đối tượng quan trọng của QLGD. Người học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Chất lượng giáo dục, đào tạo liên quan đến nhiều yếu tố như người dạy, người học, nội dung chương trình, giáo trình, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Một trong các yêu cầu bức thiết đặt ra để nâng cao chất lượng đào tạo là quản lý người học như thế nào để đạt được hiệu quả và mục tiêu giáo dục.
Trong những năm vừa qua Bộ GD&ĐT đã có các văn bản quy định cụ thể về công tác sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp làm cơ sở pháp lý để các nhà trường triển khai công tác quản lý sinh viên một cách có hệ thống như: Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGD ĐT ngày 13/8/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (Thay thế cho quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27/7/1993 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo và Quyết định số 39/2000/QĐ-BGD ĐT ngày 30/8/2000 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc sửa đổi bổ sung một số điểm trong Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo). 5 z Bên cạnh đó nhiều tác giả quan tâm lựa chọn vấn đề quản lý SV làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình như: “Các biện pháp tăng cường QL đời sống SV nội trú Đại học Quốc gia Hà Nội”, Đinh Thị Tuyết Mai, Luận văn Thạc sỹ Khoa học giáo dục, năm 2003; “Một số biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả rèn luyện của SV trường CĐSP Quảng Nam”, Nguyễn Thị Kim Thoa, Luận văn Thạc sỹ, năm 2006; “Biện pháp tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho SV Viện Đại học mở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, Nguyễn Xuân Sơn, Luận văn Thạc sỹ QLGD, năm 2008. Những nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác quản lý SV trên nhiều lĩnh vực của các nhà trường và đề xuất các biện pháp quản lý, góp phần vận dụng những hiểu biết về QL, QLGD vào công tác QL sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng để từng bước nâng cao chất lượng GD&ĐT theo yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Tuy nhiên đó là những nghiên cứu mang tính cụ thể, áp dụng trong những môi trường cụ thể của từng trường, còn bản thân công tác quản lý SV lại liên quan và phụ thuộc rất nhiều vào tính đặc thù của từng nhà trường, từng vùng miền.
Chính vì vậy việc nghiên cứu cụ thể thực trạng công tác QL sinh viên với đặc thù của trường CĐSP Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay là cần thiết để làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý SV có hiệu quả. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý * Khái niệm quản lý Lịch sử nhân loại đã chứng minh ngay từ khi loài người xuất hiện để tồn tại và phát triển con người đã liên kết lại với nhau thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu chung mà nếu chỉ là các cá nhân đơn lẻ thì họ không thể thực hiện được như chống lại sự tiêu diệt của thú dữ và thiên nhiên khắc nghiệt. Bên cạnh đó khi xã hội loài người xuất hiện thì đồng thời cũng kéo theo một loạt các quan hệ: quan hệ giữa con người với con người, giữa 6 z con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và quan hệ giữa con người với chính bản thân mình.
Để điều hòa các mối quan hệ và liên kết từng cá thể đơn lẻ thành nhóm nhằm đạt được mục tiêu chung đã dần xuất hiện một số người có năng lực chi phối, điều khiển từng người và cả nhóm người, những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm và điều đó đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Như vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm và trải qua tiến trình phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh thì hoạt động quản lý cũng ngày càng được phát triển, hoàn thiện và trở thành một hoạt động phổ biến. Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”. “Quản” là coi sóc giữ gìn, duy trì trạng thái ổn định.
“Lý” là là sửa sang sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào trạng thái “phát triển”. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” thì tổ chức dễ bị trì trệ, còn nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” thì việc phát triển của tổ chức sẽ không bền vững. Điều đó đòi hỏi trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản”. Từ điển tiếng Việt thông dụng ghi rõ: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan” [32, tr.
Bằng các cách tiếp cận khác nhau ở các góc độ khác nhau các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về quản lý như: Theo tác giả Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [23, tr. Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor (1856- 1915), Mỹ; Henri Fayol (1841-1925), Pháp; Max Weber (1864-1920), Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật điều kiển con người để thúc đẩy sự phát triển xã hội. 7 z Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [30, tr.
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản lý, song một cách tổng quát nhất có thể xem quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. * Đặc điểm chung của QL - QL bao giờ cũng chia thành chủ thể QL và đối tượng bị QL. Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động. Chủ thể phải thực hành việc tác động.
- QL bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược. - QL bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi). - QL vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật. - QL gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. * Các chức năng QL - Kế hoạch hóa: là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. - Tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra. 8 z - Chỉ đạo: là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ con người, tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ.
Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. - Kiểm tra (kiểm tra giám sát hoạt động của bộ máy nhằm kịp thời điều chỉnh sai sót, đưa bộ máy đạt được mục tiêu đã xác định): là chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Nó thực hiện việc xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có cơ sở đánh giá đúng đắn. Ngoài bốn chức năng quản lý cơ bản nói trên, trong thực hiện quá trình quản lý không thể không đề cập đến thông tin quản lý và quyết định quản lý.
Thông tin quản lý là những dữ liệu về tình hình thực hiện các nhiệm vụ đã được xử lý giúp người quản lý hiểu đúng về đối tượng quản lý mà họ đang quan tâm để phục vụ cho việc đưa ra các quyết định quản lý cần thiết. Quyết định quản lý là sản phẩm của người quản lý trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý. Mỗi chức năng có vị trí, vai trò riêng, song nó luôn quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau và tạo thành chu trình quản lý, trong đó chất xúc tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và quyết định quản lý. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.