Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên ở các trường Đại học, Cao đẳng. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý sinh viên của Phòng công tác quản lý học sinh sinh viên tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Chương 3: Các biện pháp quản lý sinh viên tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước, quy chế về công tác HSSV của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, các quy chế về QLSV nội trú, ngoại trú; Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của sinh viên, các văn bản về việc thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục đối với sinh viên diện đối tượng chính sách, chế độ miễn giảm học phí.
Người học là nhân vật trung tâm của nhà trường, là một trong những đối tượng quan trọng của Quản lý giáo dục. Người học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Chất lượng giáo dục, đào tạo liên quan đến nhiều yếu tố như người dạy, người học, nội dung chương trình, giáo trình, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Một trong các yêu cầu bức thiết đặt ra để nâng cao chất lượng đào tạo là quản lý người học như thế nào để đạt được hiệu quả và mục tiêu giáo dục.
Công tác học sinh, sinh viên là một trong những nội dung quan trọng trong việc nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo nhà trường. Muốn phát triển kinh tế - xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển toàn diện con người. Ở nước ta hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất của dân ta được cải thiện và ngày càng được nâng cao, nhân cách của con người đã có những biến đổi, bên cạnh mặt tích cực cũng có những mặt tiêu cực, có ảnh hưởng đến công tác giáo dục trong nhà trường. Tình trạng suy thoái về lối sống, đạo đức của một bộ phận sinh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chán học, hay bỏ học, động cơ học tập chưa rõ ràng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào nhà trường, đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm ở thời gian gần đây.
Do đó, sự kết hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội là sự kết hợp rất cần thiết, cần có sự liên kết chặt chẽ trong giáo dục sinh viên, GVCN là một trong những người đóng vai trò quan trọng trong sự giáo dục sinh viên. Công tác GVCN đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích, tiêu biểu là: Cải tiến việc Quản lý đội ngũ GVCN lớp của Hiệu trưởng trường phổ thông của Lưu Xuân Mới (chủ nhiệm đề tài). Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo, Hà Nội, 1998. - Giáo dục học (Chương XVI, Người GVCNL) của Phạm Việt Vượng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
- Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm Vũ Đình Mạnh, Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005). - Phương pháp công tác của người GVCN ở trường THPT của Hà Nhật Thăng (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004. - Một số học viên cao học đã quan tâm, cơ sở như luận văn thạc sĩ: "Các biện pháp tăng cường quản lý công tác sinh viên tại trường Đại học dân lập Văn Lang" của tác giả Bạch Thanh Sơn đề cập đến một số biện pháp tăng cường quản lý công tác học sinh, sinh viên tại trường Đại học Dân lập Văn Lang, năm 2008, luận văn thạc sĩ QLGD: "Biện pháp hoàn thiện công tác QLSV tại Viện Đại học Mở Hà Nội" của tác giả Lương Tuấn Long. Đề cập đến một số biện pháp hoàn thiện công tác QLSV tại Viện Đại học Mở Hà Nội, năm 2008.
Một số nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLSV trên nhiều lĩnh vực của các nhà trường và đề xuất các biện pháp quản lý, góp phần vận dụng những hiểu biết về quản lý, quản lý giáo dục vào công tác QLSV 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong các trường đại học, cao đẳng để từng bước nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo theo yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Tuy nhiên đó là những nghiên cứu mang tính cụ thể, áp dụng trong những môi trường cụ thể của từng trường, còn bản than công tác QLSV lại liên quan và phụ thuộc rất nhiều nghiên cứu cụ thể thực trạng công tác QLSV với đặc thù của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay là cần thiết để làm cơ sở đề xuất các biện pháp QLSV có hiệu quả. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và hoạt động ngày càng phát triển trong xã hội.
Trong quá trình lãnh đạo, đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, con người cần phải hợp sức nhau lại để tự bảo vệ và kiếm kế sinh sống. Những hoạt động tổ chức, chỉ đạo, điều khiển,. các hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu chung là những dấu hiệu đầu tiên của quản lý. Như vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm và trải qua tiến trình phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, thì hoạt động quản lý cũng ngày càng phát triển, hoàn thiện và trở thành một hoạt động phổ biến.
Còn nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ "quản lý", có thể nêu một số định nghĩa như sau: - Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về quản lý: Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra. - Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất (William - Tay Lor). 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, hướng vào mục tiêu nhất định. - Quản lý là dạng dao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng đểtạo hiệu quả quản lý (Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia).
- Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức". Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [13]. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích.) của chủ thể quản lý lên chủ thể bị quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động.
* Chức năng quản lý: Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra đánh giá, dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thông qua cách tiếp cận và xem xét quản lý với tư cách là một hành động thì quản lý có 4 chức năng cơ bản là: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên trong tổ chức và việc sử dụng tất cả các khả năng, cách tổ chức để đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đề ra. Bốn chức năng trên quan hệ với nhau tạo thành một chu trình quản lý, được biểu diễn bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1.2: Chu trình quản lý Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức quản lý Chỉ đạo - Lập kế hoạch: Bao gồm việc xác định sứ mệnh, nhiệm vụ, dự báo xu hướng trong tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập và phân tích các thông tin và điều kiện thực tế của tổ chức. Từ đó, xác định các mục tiêu, các kế hoạch mang tính chiến lược, chiến thuật dựa trên việc tính toán về điều kiện thực tế các nguồn lực của tổ chức và xây dựng các giải pháp thực hiện.
Thực chất của việc lập kế hoạch là xác định mục tiêu của tổ chức và cách thức hoạt động, thực hiện của tổ chức để đặt được mục tiêu đó trong điều kiện nhất định. - Tổ chức: Chức năng này được xem như là công cụ của quản lý và có ý nghĩa quan trọng nhất trong hoạt động quản lý. Hoạt động quản lý có đạt 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được mục tiêu hay không, có thực hiện được kế hoạch hoặc không thì công tác tổ chức giữ vai trò quyết định, đó chính là việc sắp xếp, lựa chọn các nguồn lực và xây dựng một cơ cấu hợp lý dựa trên việc phân tích các nhiệm vụ nhằm thực hiện được kế hoạch mục tiêu đã đề ra.