CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN THỈNH GIẢNG TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 1.1 Ở nước ngoài Từ thời Ai cập cổ đại đến Trung Quốc cổ đại các nhà quân sự đã biết cách tổ chức, quản lý quân đội của họ để đi đến những thắng lợi vẻ vang, đó là những bằng chứng rõ ràng nhất về hoạt động quản lý. Học thuyết Khổng – Mạnh là những tư tưởng quản lý bổ ích, tuy tư tưởng về quản lý của họ có khác nhau về quan điểm, như Khổng Tử chú trọng về “Đức trị” để quản lý xã hội và cai trị dân. Còn Hàn Phi Tử, Thương Ưởng thiên về “Pháp trị”. Nhưng cho đến nay thì những quan điểm trên vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách quản lý của các nước Châu Á mà trong đó có Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng sâu sắc.
Đến thời kỳ lịch sử cận đại có Chales Babrage (1792-1871), H.là những người đã đóng góp cho khoa học quản lý và làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn.2 Ở Việt Nam Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tri thức được coi là nguồn lực quyết định sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, xã hội. Giáo dục và Quản lý giáo dục là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần cho sự phát triển của đất nước, trước sự thay đổi đó thì CBQLGD có vai trò to lớn là người điều hành một hệ thống lớn và phức tạp đồng thời thự thi các chính sách giáo dục đa dạng và mềm dẻo để giải quyết một cách chủ động và sáng tạo các vấn đề nảy sinh. CBQL đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo thực hiện thành công chính sách giáo dục và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục. Sự nghiệp đổi mới GD ở nước ta hiện nay cho thấy các công tác nghiên cứu về QLGD có vai trò rất quan trọng.
Đã có nhiều công trình nghên cứu của 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các tác giả, nhà nghiên cứu và các nhà QLGD như: Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Ngọc Quang,. đề cập đến vấn đề QLGD, nâng cao chất lượng GD&ĐT của Việt nam và những biện pháp quản lý HĐDH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Nghiên cứu về “Những biện pháp tăng cường quản lý công tác giảng dạy của đội ngũ giảng viên thỉnh giảng tại trường Đại học Dân lập Hải Phòng” của Hồ Văn Giỏi (2005) đã đề xuất được 4 biện pháp là: Biện pháp tăng cường công tác kế hoạch hóa, biện pháp tăng cường công tác tổ chức, biện pháp tăng cường công tác lãnh đạo/chỉ đạo. Như vậy, việc quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên đặc biệt là giảng viên thỉnh giảng luôn giành được sự quan tâm sâu sắc của các nhà quản lý, các nhà giáo tâm huyết với sự nghiệp trồng người cùng suy nghĩ, trăn trở.
Các công trình nghiên cứu là tài sản kiến thức quý báu góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên nói chung và GVTG nói riêng ở các trường Đại học, Cao đẳng. Điều này một lần nữa lại được khẳng định trong Báo cáo trước Quốc hội ngày 07/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân: “Nhà giáo và CBQL giáo dục là những người trực tiếp thực hiện vì vậy giữ vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng và sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân”. Có nhiều đề tài nghiên cứu với những mục tiêu và hoàn cảnh khác nhau nhưng chưa có một nghiên cứu nào cụ thể về biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của GVTG tại một trường Đại học tư thục mà điển hình là Trường Đại học Hòa Bình. Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên thỉnh giảng tại Trường Đại học Hòa Bình” nhằm đưa ra các biện pháp quản lý tốt về giảng viên thỉnh giảng để nâng cao chất lượng đào tạo và thực hiện được mục tiêu chiến lược phát triển của nhà Trường.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Quản lý và các chức năng cơ bản của quản lý 1.1 Quản lý Từ khi xuất hiện lao động, tạo ra các giá trị phục vụ cuộc sống đã hình thành sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn. Do đó, cần phải có người đứng đầu chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh., từ đó xuất hiện người quản lý. Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu. Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc.
Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã có những quan điểm khác nhau về quản lý. Taylor (1856 - 1915) là người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: "Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ". "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất" [6, tr.Marx: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [19, tr480]. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" [18, tr. Theo cố tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước" [22, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới” [2].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: hoạt động quản lý là "tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" hay hiện nay, Hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[5, tr. Từ những khái niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm quản lý là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý tồn tại trong mọi quá trình hoạt động xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức vận hành và phát triển.2 Các chức năng cơ bản của quản lý Quản lý là một quá trình, một khoa học, một nghệ thuật và có những chức năng riêng của nó. Chức năng quản lý biểu thị hình thức tác động có chủ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý.
Theo các tác giả Harold Koontz, Cyril O’ Donnell và Heinz Weihrichs có năm chức năng quản lý. Đó là: Lập kế hoạch, xây dựng tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo và kiểm tra. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc lại sắp xếp thành bốn chức năng cơ bản. Đó là: Lập kế hoạch/Kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.
Quản lý giáo dục Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của con người, có sự tham gia của nhiều thành tố khác nhau nhằm hướng tới một mục tiêu đào thế hệ trẻ cho đất nước. Dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động chuyên biệt thì QLGD là quản lý các hoạt động của một cơ sở giáo dục như trường học, các đơn vị phục vụ đào tạo, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đạt được mục tiêu đào tạo. Dưới góc độ xã hội, QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [22, tr.
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “quản lý giáo dục (QLGD) là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [8, tr. "Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội"[7, tr.