Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN C P T 1.Tổng quan ch nghiên cứu Đội ngũ người thầy là yếu tố đóng vai trò then chốt và quyết định chất lượng và hiệu quả GD&ĐT. Người thầy ngày nay, bên cạnh kiến thức chuyên môn sâu, nghề nghiệp sư phạm giỏi, còn phải biết sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và hoạt động nghề nghiệp. Do vậy, bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho GV là một phần trong BDGV. Nói đến BDGV cũng có phần BD ứng dụng CNTT cho GV trong đó.
Từ trước đến nay, vấn đề đào tạo BDGV luôn là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học. Đã có không ít các công trình của tập thể và cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu về đào tạo bồi dưỡng giáo viên. Ở nước ngoài: Liên xô trước đây có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu nghề dạy học. Tiêu biểu là N.L Bôndurep với tác phẩm “Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông”.
Trong tác phẩm này, vai trò của kỹ năng sư phạm đối với nghề dạy học được tác giả đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh “những kỹ năng đó chỉ được hình thành và củng cố trong hoạt động thực tiễn của người thầy giáo". Theo tác giả, những yêu cầu về chuyên môn của người thầy giáo tất nhiên không phải chỉ có kiến thức phong phú mà còn phải có những kỹ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác giáo dục. Vấn đề không phải chỉ ở chỗ tiếp thu kiến thức về tâm lý học và giáo dục học mà là việc vận dụng chúng vào thực tế. Muốn làm công tác giáo dục tốt cần phải có kỹ năng giáo dục và phải có cả thời gian rèn luyện, trau dồi trong thực tế.
Như vậy việc BDGV nhất thiết phải làm thường xuyên. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong hoạt động của Dự án Việt-Bỉ (hỗ trợ học từ xa) đã dịch và giới thiệu một số công trình về vấn đề BDGV. Có thể điểm qua một số tác phẩm: - “Đào tạo bồi dưỡng thường xuyên” của hai tác giả Pierre Besnard (Đại học Paris V- Sorbonne) và Besnard Lietard (Đại học Genève). Trong đó, các tác giả bàn về vấn đề dạy học và BD cho người lớn.
Tác giả Jacques Nimier với tác phẩm “Giáo viên rèn luyện tâm lý” đã khẳng định việc đào tạo tâm lý không phải chỉ làm ở các trường sư phạm là đủ, mà cuộc sống nghề nghiệp sau này người giáo viên phải luôn luôn tự rèn luyện mình. Trong cuốn sách “ ột số vấn đề về đào tạo giáo viên” của Michel Develay đã trình bày theo lô-gic: Học ---> Dạy ---> Đào tạo giáo viên. Trong đó, việc đào tạo giáo viên bao gồm: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp. Đó là cuốn sách nhằm góp phần đổi mới sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên.
Ở Trung quốc, Chính phủ coi đào tạo BDGV là “máy cái” của toàn bộ ngành giáo dục, là cơ sở nền tảng cho việc dạy dỗ thế hệ mới, đào tạo nên những con người có tư tưởng đạo đức tốt, có học vấn sâu sắc và sẵn sàng thích ứng với thế giới tương lai. Họ xác định: “Tăng đầu tư ưu tiên xây dựng và củng cố các trường sư phạm trọng điểm, coi đó là đối sách chiến lược của toàn bộ sự nghiệp giáo dục, coi việc làm tốt công tác giáo dục sư phạm là chức năng của chính phủ” [43, tr. Ở háp, đất nước có truyền thống coi trọng nghề dạy học, quan niệm: “Giảng dạy là một nghề đòi hỏi có trình độ chuyên sâu và được đào tạo về nghề nghiệp rất cao” [43, tr. Việc BDGV ở háp được thực hiện theo 3 hướng chính: Coi trọng việc tự nâng cao trình độ nghề nghiệp của GV; Tạo ra sự phù hợp với công việc cho tất cả GV, đặc biệt là đối với GV dạy các môn mà lĩnh vực đó luôn có sự phát triển mạnh mẽ và theo thời gian các thiết bị trở nên lạc hậu; Định kỳ xác định những kiến thức sẽ phải đưa vào tổng thể 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chương trình bồi dưỡng để tổ chức BDGV.
Có thể nói, ở nước Pháp luôn có sự chú trọng đến BDGV, bởi họ luôn mong muốn có đội ngũ GV có chất lượng cao nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch GD&ĐT. Nhìn chung, các nước trên thế giới đều quan tâm đến việc BDGV và đều có hệ thống BDGV từ trung ương đến địa phương. Nội dung bồi dưỡng cho GV gắn với yêu cầu của nghề dạy học. Trong bối cảnh phát triển như vũ bão của CNTT và ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực hoạt động trong đó có lĩnh vực GD nói chung, dạy học nói riêng, một nội dung được chú ý trong thời gian gần đây là bồi dưỡng tri thức và kỹ năng để đưa CNTT vào dạy học.
Ở trong nước: Ngày 30/7/2001 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-2005, trong chỉ thị đó chỉ rõ vai trò của công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin: “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học”, “Ứng dụng và phát triển CNTT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục”. ột trong các mục tiêu cụ thể Bộ trưởng chỉ ra là: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học”. Công tác đào tạo BDGV được thực hiện linh hoạt, đa dạng, phong phú: đào tạo mới, đào tạo nâng chuẩn, trên chuẩn, BD thường xuyên chu kỳ, BD cập nhật kiến thức, BD thay sách. Trong thời gian qua cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bồi dưỡng GV nói chung và bồi dưỡng các kỹ năng trong đó có khả năng vận dụng CNTT trong GD như: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ở Hải Phòng có công trình “Những biện pháp tăng cường quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở ở Hải hòng” của tác giả Đào Trung Đồng.
Ở đề tài này, người viết bàn đến các biện pháp tăng cường công tác BDGV ở Hải hòng trong giai đoạn hiện nay. - Luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành quản lý và tổ chức công tác văn hoá, giáo dục của tác giả hùng Thanh Kỷ (1998) mang tên “ ột số giải pháp tăng cường quản lý công tác bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ giáo viên trung học cơ sở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” đã tập trung vào vấn đề BD thường xuyên cho đội ngũ giáo viên THC Hà Nội. - Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục của tác giả Dương Văn Đức (2006) với đề tài “Những biện pháp quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay” tập trung vào biện pháp quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV tiểu học huyện Yên Dũng Liên quan đến hoạt động BDGV về ứng dụng CNTT có một số đề tài nghiên cứu như: - Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý và tổ chức công tác văn hoá, giáo dục của tác giả Trần Đức Nam mang tên “Thực trạng và giải pháp xây dựng mô hình Trung tâm Tin học thuộc ở Giáo dục & Đào tạo Hải Phòng đến năm 2010” (năm 2002). ục đích nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra mô hình TTTH phù hợp với yêu cầu phát triển GD&ĐT Hải hòng, đặc biệt là yêu cầu BD ứng dụng CNTT cho giáo viên các trường phổ thông.
- Tác giả hạm Thuý Lương trong luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý và tổ chức công tác văn hoá, giáo dục mang tên “Quy hoạch phát triển mạng thông tin quản lý giáo dục của Sở Giáo dục & Đào tạo Hải Phòng giai đoạn 2003-2010” (năm 2002) đã đề xuất các biện pháp nhằm xây dựng quy hoạch phát triển mạng thông tin quản lý giáo dục của Sở GD&ĐT Hải Phòng giai đoạn 2003-2010 trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý của Sở GD&ĐT Hải Phòng. Các công trình, luận văn nêu trên đã nghiên cứu, đưa ra các giải pháp biện pháp liên quan đến hoạt động đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nói chung và bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho giáo viên nói riêng nhưng chưa đề cập đến những biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng ứng dụng CNTT trong giảng dạy cho giáo viên THC Hải hòng của TTTH, một đơn vị trực thuộc ở GD&ĐT, có chức năng nhiệm vụ chủ yếu là bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho cán bộ, giáo viên nhà trường phổ thông. Một số vấn đề í ận và khái niệm cơ bản 1.Quản lý Từ khi loài người có tổ chức, có sự phân công, hợp tác lao động thì cũng từ đó xuất hiện hoạt động quản lý. Theo giải nghĩa của một số từ điển Hán – Việt: “quản” có các nghĩa là coi sóc, can thiệp, tu chỉnh để sự vật hoặc hoạt động tốt lên và không vượt ra ngoàn khuôn khổ.
“Lí” có các nghĩa là cái đúng, luận cứ hoặc luận chứng đúng [30, tr. Theo những định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý. Xin nêu một số định nghĩa sau: - W.
Taylor, cho rằng: “quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý làm cho vận hành theo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.