Chương 1. Cơ sở lý luận của các biện pháp quản lí GDĐĐ cho HS ở trường trung học phổ thông. Thực trạng quản lý GDĐĐ cho HS ở trường trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS ở trường trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu của nước ngoài Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh các quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội, con người với tự nhiên. Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, chuẩn mực nhằm hướng con người tới chân, mỹ thiện, chống lại cái giả dối, cái ác, cái xấu.
Các chuẩn mực đạo đức xuất hiện do nhu cầu đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, nó được hoàn thiện và phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao. Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470 -399- TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau, con người muốn có đạo đức cần phải được giáo dục. Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng tử (551- 479-TCN) đã rất xem trọng việc giáo dục đạo đức cho con người ngay từ lúc còn thơ ấu. Theo quan điểm của Mác đạo đức có nguồn gốc từ lao động xã hội và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội, đạo đức có tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.
Nhà trường trong mọi chế độ xã hội đều giáo dục đạo đức cho học sinh. Các nghiên cứu trong nước Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu quan điểm đạo đức Mác - Lênin và thật sự làm nên một cuộc cách mạng lớn trong lĩnh vực đạo đức. Người nói “đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nước thì sông sẽ cạn”. “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa ”.
Với thanh, thiếu niên, trong di chúc của mình Bác căn dặn: “Phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa vừa “hồng” vừa “chuyên ”. Phải dạy cho thiếu niên phải biết “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; học tập tốt, lao động tốt; đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; giữ gìn vệ sinh thật tốt; khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, Người lưu ý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà có, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com càng luyện càng trong”. Người cho rằng “Con người cần có bốn đức tính: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”[3]. Kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh, ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu về giáo dục đạo đức như Vũ Khiêu, Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Viết Vượng, Phạm Khắc Chương và nhiều tác giả khác.
Trong cuốn “Giáo dục học” tác giả Phạm Viết Vượng đã phân tích các con đường giáo dục quan trọng, đó là thông qua dạy các môn khoa học, thông qua tổ chức các hoạt động đa dạng, thông qua sinh hoạt tập thể và tự tu dưỡng. Tác giả nhấn mạnh “Một nhân cách tốt không thể phát triển ngoài giáo dục”. Trong tài liệu bồi dưỡng GV các tác giả Phạm Khắc Chương và Trần Văn Chương đã phân tích quá trình phát triển tâm sinh lý của HS THPT, về tình bạn, tình yêu, khẳng định đại đa số HS hiếu học, ngoan ngoãn, thông minh và có một bộ phận HS hư mà người có lỗi lại chính là người lớn. Tác giả Thái Duy Tuyên trong công trình nghiên cứu: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” [47] trong phần đánh giá về thực trạng đã tỏ ra rất lo lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và mức độ nguy hại của một bộ phận HS.
Tác giả kết luận ĐĐHS đang trên đà giảm sút và cho rằng GDĐĐ là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội đồng thời cũng kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu về GDĐĐ. Trong tác phẩm: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [27] của một nhóm tác giả do Phạm Minh Hạc làm chủ biên, đã đánh giá thực trạng ĐĐHS, sinh viên hiện nay có một khoảng cách khá xa mới tiếp cận được với mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức so với yêu cầu của thời kỳ mới. Điểm lại các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy các tác giả đều khẳng định: Đa số HS, sinh viên có phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh, ham hiểu biết, ham học hỏi, tôn trọng đạo lý, vẫn giữ gìn được bản sắc và truyền thống văn hoá của dân tộc, tuy nhiên vẫn có một số học sinh nhận thức và hành động còn chưa đạt những chuẩn mực đạo đức hiện nay. Một điều khiến chúng ta trăn trở là tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp, sự xuống cấp về mặt đạo đức của một bộ phận thanh niên HS ngày càng gia tăng? Nguyên nhân của tình trạng trên là gì? Trách nhiệm của các nhà trường, đặc biệt là các trường THPT đến đâu nhằm hạn chế tình trạng trên và nâng cao chất lượng GDĐĐ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HS, một lực lượng chiếm tỷ lệ cao trong xã hội, là chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.
Lý thuyết về quản lý giáo dục 1. Quản lý Theo Mác quản lý: “Nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó. Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy”. Theo Aunapuff: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là một khoa học và là một nghệ thuật tác động vào hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được những mục tiêu xác định.
Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau” [29]. Xét nội hàm của khái niệm quản lý ta thấy quản lý là một dạng hoạt động xã hội và tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm chủ thể, khách thể và phương tiện quản lý, là một dạng lao động điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục. * Các đặc trưng của quản lý: - Quản lý là hoạt động có mục đích, có định hướng và có kế hoạch. - Quản lý là sự lựa chọn khả năng tối ưu.
- Quản lý là sự sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động đã lựa chọn. - Quản lý làm giảm tính bất định và tăng tính ổn định của hệ thống. * Chức năng của quản lý: - Theo H.fayol có 5 chức năng quản lý đó là: Kế hoạch (Planning); Tổ chức (Organizing); Chỉ huy (Directing); Phối hợp (Co- Ordinating); Kiểm tra (Controlling). - Theo quan điểm quản lý hiện đại có 4 chức năng cơ bản sau: Kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo (bao gồm cả sửa chữa, uốn nắn và phối hợp); Kiểm tra (bao gồm cả thanh tra, kiểm tra và giám sát).
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sơ đồ các chức năng quản lý Kế hoạch TT Tổ chức Kiểm tra Chỉ đạo Sơ đồ 1. Các chức năng quản lý - Kế hoạch hoá là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu. - Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách hợp lý. - Chỉ đạo là chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng để thực hiện kế hoạch đã đề ra.
- Kiểm tra là chức năng dùng để kiểm tra trạng thái của hệ thống, kiểm tra kết quả thực hiện kế hoạch so với mục tiêu đề ra, kiểm tra còn nhằm phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa trong quá trình thực hiện kế hoạch. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân và các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân đi đúng mục tiêu giáo dục xã hội. Quản lý điều hành hệ thống giáo dục quốc dân là quản lý cấp vĩ mô và quản lý một nhà trường là quản lý vi mô. Ở góc độ vi mô tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [29].
Quản lý giáo dục cũng có 4 chức năng: Lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo điều hành - Kiểm tra đánh giá. Hệ thống giáo dục là hệ thống mở, luôn vận động và phát triển theo quy luật chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và chịu sự quy định của kinh tế - xã hội. Vì vậy quản lý 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục cũng phải luôn được đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của giáo dục đối với sự vận động và phát triển chung của xã hội. Quản lý nhà trường Quản lý trường học là quản lý một cơ sở giáo dục, ở cấp độ vi mô vừa mang tính đặc thù của quản lý giáo dục, vừa mang tính xã hội, trực tiếp quản lý đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ.
Theo Phạm Viết Vượng thì “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường… Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát triển mới.