Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật của các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình. Chương 2: Thực trạng thực hiện các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình. Chương 3: Các giải pháp bảo đảm thực hiện các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình. 7 NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại bạo lực gia đình 1. Khái niệm bạo lực gia đình. Gia đình Việt Nam đã hình thành và phát triển từ rất lâu về trước, trải qua nhiều thời kỳ vẫn mang những nét đẹp và giá trị truyền thống vốn có.
Trong đó bạo lực gia đình là hiện tượng xã hội, những hành vi vi phạm pháp luật, gây ra sự chia rẽ giữa các thành viên trong gia đình. Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, bạo lực gia đình từ lâu đã luôn là vấn đề gây nhức nhối bởi hậu quả mà bạo lực gây ra vô cùng nghiêm trọng cho gia đình, cá nhân, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em. Bạo lực gia đình khiến cho cuộc sống trong gia đình bị tan vỡ, con cái thiếu thốn tình cảm của cha mẹ, khiến cho xã hội bị ảnh hưởng. Tuy bạo lực gia đình không còn là vấn đề mới nhưng đây vẫn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia.
Dựa trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, sẽ có rất nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề bạo lực gia đình như sau: Từ góc độ giới: Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA): “Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ trong đó phụ nữ là nạn nhân và điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ. Bạo lực thưởng nhằm vào phụ nữ hoặc ảnh hưởng lớn đến phụ nữ. Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm những tổn hại về thân thể, tâm lý, tình dục (bao gồm cả sự đe dọa gây đau khổ cưỡng bức hoặc tước đoạt sự tự do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộng đồng) nhưng nó không bị hạn chế ở những dạng này” [10]. Nhìn từ góc độ giới, bạo lực gia đình có thể được hiểu là hành vi bất kỳ của các thành viên gia đình đối với nhau trên cơ sở giới tính được biểu hiện dưới những hình thức nhất định hành động hoặc không hành động, có khả năng gây ra hoặc đe dọa gây ra những tổn hại nhất định về thể chất, tinh thần kinh tế, tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự do của các thành viên khác trong gia đình.
Từ góc độ xã hội: Hiện nay, đại bộ phận người dân vẫn chưa có cách hiểu đầy đủ và chính xác về bạo lực gia đình. Đa số người dân đều cho rằng bạo 8 lực gia đình là những hành vi đánh đập, gây thương tích dẫn đến kết quả nạn nhân bị tổn thương về mặt thể chất hay tử vong mới là bạo lực gia đình. Đây là một cách hiểu chara thực sự đầy đủ và chính xác về bạo lực gia đình trong xã hội ngày nay khi những hành vi xâm phạm tới tinh thần không được coi là bạo lực gia đình. Có thể thấy, từ góc độ xã hội, sự nhận thức về bạo lực gia đình vẫn còn nhiều hạn chế.
Từ góc độ pháp luật: Theo Luật mẫu về bạo lực gia đình của Ủy ban nhân quyền của Liên hợp quốc ngày 02/02/1996: “Bạo lực gia đình là tất cả hành vi lạn dụng thể chất, tinh thần tình dục dựa trên cơ sở giỏi đối với một thành viên một người phụ nữ trong gia đình từ hành vi đánh đập đơn giản đến gây thương tích nặng bắt cóc đe dọa dọa dẫm, cưỡng bức, quấy rối lăng nhục bằng lời nói, dùng vũ lực để vào nhà trái pháp luật phong hóa hủy hoại tài sản bạo lực tình dục, hiếp dâm trong hôn nhân bạo lực liên quan đến thách cưới hoặc của hồi môn. Tại Việt Nam, thuật ngữ “bạo lực gia đình” được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2022: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần tình dục, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”. Như vậy, khái niệm bạo lực gia đình trong quy định tại Việt Nam có liên quan chặt chẽ đến khái niệm thành viên trong gia đình được quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014. So với Luật PCBLGĐ năm 2007, khái niệm bạo lực gia đình trong Luật PCBLGĐ năm 2022 đã được bổ sung thêm khía cạnh tình dục để phù hợp hơn với tình trạng xã hội hiện nay.
Từ quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật PCBLGĐ 2022 có thể hiểu BLGĐ là hiện tượng một hay nhiều thành viên dùng quyền lực của bản thân để thực hiện hành vi khiến cho thành viên khác trong gia đình phải chịu đau đớn về mặt thể xác, khủng hoảng về mặt tinh thần, tình dục bị xâm hại, làm cho kinh tế của thành viên đó bị ảnh hưởng tiêu cực. Đặc biệt, BLGĐ phải là hành vi cố ý. Tuy nhiên, quy định của Luật PCBLGĐ năm 2022 vẫn chưa thực sự đầy đủ, rõ ràng và làm nổi bật được hành vi BLGĐ cũng như chủ thể của BLGĐ. Để có nhận thức đầy đủ và hoàn thiện hơn, chúng ta có thể hiểu khái niệm BLGĐ như kiến 9 nghị của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền “BLGĐ là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội, được thực hiện một cách cố ý và được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động của một hoặc một số thành viên gia đình đối với một hoặc một số thành viên khác trong gia đình.
Hậu quả của BLGĐ có thể gây tổn hại sức khỏe, cũng có thể ảnh hưởng đến vật chất, tinh thần của nạn nhân” [11]. Bởi đây là khái niệm vô cùng đầy đủ và hoàn thiện giúp mọi người có cái nhìn đúng đắn hơn về BLGĐ. Như vậy, chúng ta thấy rằng vấn đề bạo lực gia đình dựa trên nhiều quan điểm khác nhau nên có nhiều sự nhìn nhận khác nhau, nhưng chung quy lại, những hành vi bạo lực gia đình đều là một dạng của bạo lực xã hội, hay nói cách khác đây là hành vi vi phạm pháp luật vì khi một vấn đề nào đó xảy ra trong gia đình đều dùng sức mạnh để có thể giải quyết được vấn đề này. Bạo lực gia đình được thực hiện với lỗi cố ý biểu hiện của dạng này là không hành động và hành động.
Hậu quả mà nó gây ra, gây tổn thương và ảnh hưởng tới quyền cũng như lợi ích của các cá nhân. Đặc điểm của hành vi bạo lực gia đình Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 đã quy định cụ thể những hành vi bạo lực gia đình tại Điều 3 của luật này. Đó là những hành vi gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của thành viên như là hành hạ, ngược đãi, đánh đập. Những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác như sử dụng ngôn từ để lăng mạ, chì chiết, đặc biệt hơn là ép thành viên trong gia đình phải chứng kiến cảnh bạo lực để gây áp lực về mặt tâm lý; vô trách nhiệm trong việc chăm sóc các thành viên trong gia đình khi họ là những người thuộc nhóm yếu thế như trẻ em, phụ nữ đang có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật,.
Làm phát tán thông tin, tiết lộ thông tin bí mật về đời sống riêng tư, đời sống cá nhân, bí mật gia đình của các thành viên trong gia đình, đây đều là những hành vi làm xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác. Còn về vấn đề bạo lực tình dục thì những hành vi vi phạm đó là việc cưỡng ép quan hệ tình dục không theo mong muốn của vợ hoặc chồng; sử dụng những biện pháp đồi bại như bắt nạn nhân phải nghe âm thanh hay xem 10 hình ảnh có nội dung khiêu dâm, có tính kích thích bạo lực; ngoài ra còn cưỡng ép mang thai, nạo phá thai hay tảo hôn, kết hôn, ly hôn. Vấn đề bạo lực kinh tế, những hành vi vi phạm mà pháp luật quy định đó là việc cố ý chiếm đoạt, phá hoại tài sản riêng hoặc chung của các thành viên trong gia đình, hay như là ép các thành viên phải đóng góp tài chính vượt quá thu nhập, khả năng của họ. Cô lập, giam giữ trái pháp luật các thành viên, hoặc cưỡng ép thành viên phải rời khỏi nơi ở.
Như vậy, trên đây là những hành vi vi phạm pháp luật về gia đình, gây ảnh hưởng đến các thành viên trong gia đình. Những hành vi này được thể hiện dưới nhiều dạng hình thức khác nhau, nhưng nhìn chung đều là những hành vi gây ra những ảnh hưởng xấu tới các thành viên trong gia đình, khiến họ bị tổn thương về mặt thể chất, tinh thần, hoặc kinh tế. Từ những định nghĩa trên, các đặc điểm của bạo lực gia đình có thể hiểu như sau: Thứ nhất, một trong những đặc điểm cơ bản của hành vi bạo lực gia đình là sự kiểm soát. Người bạo hành thường tìm cách kiểm soát, áp đặt ý muốn và quyền lực lên người bị hại.
Họ có xu hướng kiểm soát mọi khía cạnh của cuộc sống của nạn nhân, bao gồm cả quyền tự do cá nhân tài chính và mối quan hệ xã hội. Hành vi kiểm soát này có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức như giới hạn quyền tự do, đe dọa, ép buộc hoặc làm giảm tự tin của nạn nhân. Thứ hai, hành vi bạo lực gia đình có yếu tố liên quan đến quyền lực chủ nghĩa. Người bạo hành thường xuyên sử dụng quyền lực để làm tổn thương người khác và duy trì sự kiểm soát.
Quyền lực này có thể dựa trên sự chênh lệch về giới tính tuổi tác, địa vị xã hội hoặc tài chính Người bạo hành thường sử dụng quyền lực của mình để thể hiện sự thống trị và kiểm soát đối tác. Họ có thể áp đặt quy tắc, cam kết hành vi bạo lực và đe dọa hậu quả nếu bị phản kháng Thứ ba, người bạo hành thường sử dụng cưỡng ép để đạt được mục đích cá nhân hoặc để trừng phạt người khác là đặc điểm của hành vi bạo lực gia đình. Điều này có thể bao gồm sử dụng bạo lực vật chất, lạm dụng tình dục hoặc tạo ra một môi trường đáng sợ và đe dọa.