CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BHXH BẮT BUỘC VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUỸ CHẾ ĐỘ NGẮN HẠN BHXH BẮT BUỘC 1. Khái quát chung về BHXH và BHXH bắt buộc 1. Khái niệm về bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXH là một trong những chính sách lớn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm coi trọng là 1 trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, trong đó có BHXH tự nguyện. Có thể nói chính sách BHXH tự nguyện ra đời và áp dụng thưc hiện từ ngày 01/01/2007 là 1 chính sách ưu việc và đầy tính nhân văn cho lao động tự do làm việc ở khu vực phi chính thức được tham gia và hưởng chế độ lương hưu khi hết tuổi lao động.
Tuy nhiên cho đến nay số lượng người lao động ở khu vực này tham gia vẫn là 1 con số ít ỏi. Vậy, nguyên nhân cần nói đến ở đây là gì? Phải chăng là do thu nhập của người dân không đủ để trang trải cho cuộc sống mưu sinh trước mắt hay các quy định về chính sách chưa được ưu việc và linh hoạt để có thể được đông đảo người lao động đồng thuận hoặc chính sách này thực sự chưa đến được người dân để họ tiếp cận, nắm bắt…Nhằm nâng cao hơn nữa tính nhân văn của chính sách này cũng như tháo gỡ, tiếp sức và chung tay với người lao động, Luật BHXH số 58/QH13 do Quốc Hội XIII thông qua ngày 20/11/2014 đã thể chế và hoàn thiện các quy định về chính sách BHXH theo hướng mở rộng và nâng cao quyền tham gia và thụ hưởng chế độ chính sách cho đông đảo nhân dân lao động vì mục tiêu an sinh cho mọi người lao động khi về già. BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Khái niệm về bảo hiểm xã hội bắt buộc Mục đích để NLĐ tham gia vào quan hệ lao động là để có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho mình và các thành viên trong gia đình.
Khi họ gặp 6 phải những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống như tai nạn lao động, bệnh tật… hoặc đến lúc về già dẫn đến việc giảm hoặc mất khả năng lao động thì nguồn thu nhập thường xuyên đó cũng có nguy cơ bị mất hoặc bị giảm. Chính vì vậy, để ổn định cuộc sống, NLĐ phải tìm các biện pháp đảm bảo thu nhập cho mình trong những trường hợp rủi ro nói trên. Một trong các biện pháp đó là tham gia BHXH. BHXH là khái niệm có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.
Theo từ điển Tiếng Việt thì BHXH là sự bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân viên chức khi không làm việc vì ốm đau, thai sản, dưỡng sức, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tuổi già hay tử tuất. Còn theo Từ điển Giải thích từ ngữ Luật học thì BHXH là bảo hiểm thu nhập của NLĐ trong một số trường hợp, do Nhà nước tổ chức quản lý. Đặc trưng cơ bản để phân biệt BHXH với các hình thức bảo hiểm khác là sự kết hợp nghĩa vụ của người SDLĐ, việc thực hiện chính sách bảo đảm xã hội của nhà nước với sự tương trợ cộng đồng giữa những NLĐ để ổn định cho họ và gia đình họ trong và sau quá trình lao động. Dưới góc độ kinh tế: BHXH chính là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất …thông qua một quỹ được hình thành và tồn tích dần trên cơ sở sự đóng góp của nguời lao động và người SDLĐ có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Theo quy định tại Điều 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” 7 Như vậy, có thể nói BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ, khi họ gặp phải biến cố, rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân NLĐ và thân nhân của NLĐ trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. [24, tr2] BHXH được thực hiện dưới hai hình thức: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Trong đó BHXH bắt buộc được bắt buộc áp dụng đối với một số đối tượng nhất định. Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đều đặc biệt quan tâm đến BHXH bắt buộc.
Bởi đối tượng áp dụng BHXH rất rộng nên có nhiều đối tượng tham gia. Càng ngày, các nước đều có xu hướng mở rộng phạm vi và đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc. Các chế độ trợ cấp BHXH bắt buộc cũng được bổ sung nhằm đảm bảo và khắc phục rủi ro có thể xảy ra với NLĐ. Tính tất yếu khách quan và sự phát triển của Bảo hiểm xã hội.
Trong cuộc sống, để sinh tồn và phát triển con người phải lao động để làm ra của cải vật chất, nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu. Để lao động con người phải có sức khỏe. Tuy nhiên trên thực tế con người không phải lúc nào cũng đủ điều kiện về sức khỏe, không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi, may mắn, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều biến cố, rủi ro có thể xảy ra với bất kỳ ai, có thể do điều kiện tự nhiên, môi trường sống, hoặc điều kiện khách quan như: ốm đau, tai nạn, mất việc làm, già yếu, không có khả năng lao động, tử vong.
cần đến sự sẻ chia về tinh thần và vật chất để giảm bớt gánh nặng trong cuộc sống sinh hoạt. Muốn an tâm ổn định cuộc sống, con người đã tìm ra nhiều cách để giải quyết, như san sẻ, đùm bọc lẫn nhau, đi vay mượn hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước. 8 Sự tương trợ cộng đồng dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Lúc đầu, sự trợ giúp này là thụ động, cục bộ, không ổn định và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến, cuộc sống của NLĐ phụ thuộc vào thu nhập do lao động làm thuê mang lại. Chính vì thế, mất việc làm hoặc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật đã trở thành mối đe dọa đối với họ. Ngoài việc được trả tiền công, NLĐ đòi hỏi một khoản trợ cấp khi họ gặp ốm đau, tai nạn rủi ro, sinh con hoặc khi mất việc làm,. Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và chủ SDLĐ không phải chi trả.
Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập buộc họ phải bỏ ra một khoản tiền lớn mà họ không mong muốn. Để giải quyết vấn đề trên, Nhà nước yêu cầu cả chủ SDLĐ và NLĐ đều phải đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng trên cơ sở được tính toán chặt chẽ. Từ đó hình thành một quỹ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ NSNN khi cần thiết để đảm bảo đời sống cho NLĐ khi gặp những biến cố bất lợi.
Nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của NLĐ được dàn trải, cuộc sống của NLĐ ngày càng được ổn định. Người SDLĐ cũng được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn, mâu thuẫn. Vì vậy nguồn quỹ này được hình thành và không ngừng phát triển, mang ý nghĩa như một tấm lưới che đỡ cuộc sống của con người. Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được quan niệm là BHXH đối với NLĐ.
Như vậy, BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia. Mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu không thể thiếu của NLĐ. Nguyên tắc hoạt động của Bảo hiểm xã hội bắt buộc Các nguyên tắc cơ bản của BHXH là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật BHXH. BHXH 9 luôn chứa đựng và đan xen hai yếu tố kinh tế và xã hội.
BHXH phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc cơ bản của pháp luật ASXH. Cụ thể là: Thứ nhất, mọi thành viên trong xã hội đều có quyền được hưởng ASXH, là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền con người. Tuy nhiên, để được hưởng một chế độ trợ giúp nào đó thì đối tượng được trợ giúp phải thỏa mãn những điều kiện nhất định, như để hưởng BHXH thì NLĐ phải tham gia BHXH theo quy định. Thứ hai, nhà nước thống nhất quản lí vấn đề ASXH.
Cơ sở của nguyên tắc này nằm ngay chính ở chức năng xã hội của nhà nước. Nhà nước, người chủ sở hữu cao nhất đồng thời là người chủ SDLĐ lớn nhất, người đại diện cho toàn xã hội phải là người thống nhất quản lý toàn bộ lĩnh vực ASXH. Thứ ba, kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Mục tiêu của chính sách xã hội là nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người.
Trong khi đó, nguồn lực của con người lại được xác định là “yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội là chủ trương có tính chiến lược của Nhà nước ta. Thứ tư, kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp” và nguyên tắc “lấy đông bù số ít”. Nguyên tắc có tính chất kép này rất đặc trưng cho pháp luật ASXH.
Trợ cấp ASXH có nhiều mức khác nhau.