Chương 1: Tổng quan về nhân sự và quản lý nhân sự; Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhân sự tại Điện lực Hồng Bàng từ năm 2015-2019; Chương 3: Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nhân sự tại Điện lực Hồng Bàng đến năm 2024. TỔNG QUAN VỀ NHÂN SỰ VÀ QUẢN LÝ NHÂN SỰ 1. Khái niệm về nhân sự và quản lý nhân sự 1. Khái niệm về quản lý Nói đến ý nghĩa của hoạt động quản lý, C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà sự hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [1]. Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học”[4].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [3]. Từ những khái niệm trên có thể tổng hợp lại: Quản lý là hệ thống hoạt động phối hợp với những nỗ lực cá nhân, nguồn lực riêng lẻ của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức một cách hiệu quả dưới sự tác động thường xuyên của môi trường. Khái niệm về nhân sự Nguồn nhân sự (con người) là một nguồn đầu vào đặc biệt, nó quyết định đến rất nhiều sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Bởi, nguồn lực con người là nguồn lực quý giá nhất của xã hội ngày nay, là nguồn lực mang tính chiến lược và quản lý nguồn nhân sự là một công tác mang tính chiến lược.
Từ góc độ kinh tế: Theo Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân: “nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất 5 là tiềm năng lao động) của một quốc gia (một vùng lãnh thổ) có trong một thời kỳ nhất định” [10]. Cũng theo Phạm Thành Nghị, “nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập cao trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ và mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai” [11]. “Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động của xã hội và tổng thể những tiềm năng lao động của xã hội nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như việc tổ chức, quản lý điều hành đất nước.
Đó là tài nguyên quan trọng nhất và cơ bản nhất của mỗi quốc gia” [9]. Từ góc độ dân số học, nguồn nhân lực được hiểu là dân số trong độ tuổi lao động, trong đó nhấn mạnh dân số có khả năng lao động đang làm việc, tức là đang hoạt động kinh tế và đang không có việc làm [11]. Theo Trần Kim Dung (2000) đã định nghĩa “Nhân sự là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức xã hội hay doanh nghiệp (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp”[5]. Khái niệm quản lý nhân sự Với nhiều cách quan niệm khác nhau về quản lý nhân sự, do vậy khái niệm quản lý nhân sự có thể được hiểu như sau: - Quản lý nhân sự giải quyết các vấn đề liên quan đến con người trong tổ chức, gắn với những công việc cụ thể của họ cùng các mối quan hệ nảy sinh trong quá trình làm việc nhằm tạo điều kiện để mọi người hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và làm việc hiệu quả cho mục tiêu cuối cùng của tổ chức [8].
- Đi sâu vào việc làm của quản lý nhân sự còn được hiểu là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó [13]. Quản lý nhân sự là một lĩnh vực theo dõi, hướng dẫn điều chỉnh, kiểm tra 6 sự trao đổi chất (năng lượng, thần kinh, bắp thịt…) giữa con người và các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ, đối tượng lao động, năng lượng…) trong quá trình tạo ra của cải vật chất, tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người nhằm duy trì, bảo vệ, sử dụng và phát triển tiềm năng được cho là vô hạn của con người. Có thể nói hoạt động của một tổ chức sẽ không hiệu quả nếu thiếu công tác quản lý nhân sự. Do đó, trong mỗi tổ chức thì công tác quản lý nhân sự luôn được đặt lên hàng đầu, bởi tổ chức đó có đạt được mục tiêu đề ra thì công tác quản lý nhân sự phải thực sự hiệu quả.
Theo Giáo sư người Mỹ Dimock “Quản lý nhân sự bao gồm toàn bộ các biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả các trường hợp xảy ra có liên quan tới một loại công việc nào đó”[7]. Đi sâu vào nội dung hoạt động của quản lý nguồn nhân lực, tác giả PGS. Nguyễn Ngọc Quân cho rằng: “Quản lý nguồn nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong các tổ chức” [12]. Như vậy, có thể nói quản lý nhân sự là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật vì quản lý nhân sự là một lĩnh vực gắn bó nhiều đến văn hoá tổ chức và chứa đựng nhiều giá trị nhân văn hơn bất cứ một lĩnh vực quản lý nào khác, nó đòi hỏi nhà quản lý cần có nhiều kỹ năng mềm.
Vai trò của công tác quản lý nhân sự trong doanh nghiệp Yếu tố giúp ta nhận biết được một doanh nghiệp hoạt động tốt hay không tốt, thành công hay không thành công chính là lực lượng nhân sự của doanh nghiệp - những con người cụ thể với lòng nhiệt tình và óc sáng kiến của họ với doanh nghiệp. Mọi thứ còn lại như: máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được, học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì không thể. Vì vậy có thể khẳng định rằng quản lý nhân sự có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp, quản lý nhân sự thuộc chức năng chính của nhà quản lý, giúp nhà quản lý đạt được mục đích thông qua nỗ lực, hành động của người khác.
Các nhà quản lý có vai trò đề ra các chính sách, đường lối, chủ trương có 7 tính chất dẫn đường định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp, do đó yêu cầu của nhà quản lý phải là người biết nhìn xa trông rộng, có trình độ chuyên môn cao. Người thực hiện các đường lối chính sách mà nhà quản lý đề ra là các nhân viên thừa hành, kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhân viên, vì vậy có thể nói rằng “mọi quản lý suy cho cùng cũng là quản lý con người”. Quản lý nhân sự góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động. Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động kinh tế nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho người lao động hưởng thành quả do họ làm ra.
Quản lý nhân sự gắn liền với mọi tổ chức, bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận nhân sự. Quản lý nhân sự là một thành tố quan trọng của chức năng quản lý, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp nơi trong mọi tổ chức. Quản lý nhân sự hiện diện ở khắp các đơn vị bất cứ cấp quản lý nào cũng có nhân viên dưới quyền vì thế đều phải có quản lý nhân sự. Cung cách quản lý nhân sự tạo ra bầu không khí văn hoá đặc trưng cho một doanh nghiệp.
Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp. Quản lý nhân sự có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, nó là hoạt động bề sâu chìm bên trong doanh nghiệp nhưng lại quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nội dung của công tác quản lý nhân sự trong doanh nghiệp 1. Phân tích công việc Là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và kỹ năng nhân viên cần thiết phải có để hoàn thành tốt công việc.
Phân tích công việc thường được thực hiện theo trình tự 5 bước sau: Sơ đồ: 1. Phân tích công việc theo trình tự các bước 8 - Bước 1: Mô tả công việc + Quan sát trực tiếp xem công việc được thực hiện như thế nào tại nơi làm việc. Để quan sát, cán bộ phân tích công việc thiết kế mẫu phiếu quan sát, sau đó tiến hành quan sát, theo dõi trực tiếp quá trình thực hiện công việc của người lao động và ghi chép vào mẫu phiếu quan sát đã có sẵn các thông tin như: công việc đó được thực hiện như thế nào; các mối quan hệ trong khi làm việc; máy móc, phương tiện được sử dụng; kết quả thực hiện công việc… Để mô tả công việc có sử dụng một số biện pháp sau: Phương pháp quan sát được áp dụng chủ yếu cho công nhân sản xuất, những công việc mà hoạt động lao động của chúng diễn ra trong thời gian ngắn, thể hiện ra bên ngoài, lặp đi lặp lại và dễ dàng quan sát được. Phương pháp này dễ thực hiện, thông tin thu thập được chi tiết, đầy đủ, phong phú, sát với thực tế công việc.