Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động đối ngoại đối với phát triển kinh tế xã hội. Thực trạng hoạt động đối ngoại của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2015-2019. Các biện pháp đẩy mạnh hoạt động đối ngoại góp phần phát triển kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI.
Một số vấn đề lý thuyết cơ bản về chính sách đối ngoại Chính sách đối ngoại, theo Marijke Breuning là “tổng thể các chính sách và tương tác với môi trường bên ngoài biên giới quốc gia”. Chính sách đối ngoại bao quát nhiều vấn đề, từ an ninh, kinh tế tới những vấn đề môi trường, năng lượng, viện trợ nước ngoài, di cư. Chủ thể chính sách đối ngoại và mục tiêu chính sách đối ngoại nhắm tới thường là các quốc gia. George Modelski thì cho rằng “chính sách đối ngoại là hệ thống những hoạt động do các cộng đồng thực hiện nhằm thay đổi hành vi của các quốc gia khác và điều chỉnh hành động của bản thân nhà nước mình với môi trường quốc tế”, giảm tác động bất lợi và tăng cường hợp tác.
James Rosenau quan niệm chính sách đối ngoại là "sự cố gắng của một xã hội quốc gia nhằm kiểm soát môi trường bên ngoài bằng cách duy trì bối cảnh thuận lợi và thay đổi những bối cảnh bất lợi". Theo "Từ điển thuật ngữ Ngoại giao", chính sách đối ngoại là "chủ trương, chiến lược, kế hoạch và các biện pháp thực hiện cụ thể do một quốc gia 17 đề ra liên quan đến các mối quan hệ quốc tế mà quốc gia đó thiết lập với các quốc gia và các chủ thể khác nhằm tăng cường và bảo vệ lợi ích quốc gia của mình"1. Tổng hợp các cách nhìn trên, tác giả cho rằng, chính sách đối ngoại là một bộ phận của chính sách quốc gia (chính sách công), tổng hợp những mục tiêu, phương tiện, biện pháp, điều chỉnh của một quốc gia được thực hiện trên trường quốc tế nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia đó. Với quan niệm này, các nước sẽ tiến hành điều chỉnh chính sách đối ngoại để có thể đáp ứng thích hợp trong xử lý vấn đề, tận dụng tình hình có lợi hoặc giảm nhẹ sự bất lợi.
Đường lối đối ngoại đổi mới được Đảng ta đề xướng từ năm 1986, liên tục được bổ sung và hoàn chỉnh qua các kỳ đại hội, trong đó đều khẳng định 1 Baris Kesign, “Foreign Policy Analys”, in John T.Ishiyama and Marijke Breauning (eds), 21st century Political Science: A Reference Handbook (Thousand Oaks, CA: SAGE Publications, 2011). 7 vai trò đặc biệt quan trọng của lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại của đất nước. Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (tháng 6-1992) khẳng định, mục tiêu “hòa bình và phát triển” trở thành chuẩn mực trong hoạt động quốc tế của Việt Nam, phục vụ cho lợi ích cao nhất của dân tộc là “nhanh chóng ra khỏi khủng hoảng, giữ vững tăng cường ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập và tự do của Tổ quốc”(2). Trên tinh thần đó, “công tác đối ngoại phải phục vụ lợi ích đó của dân tộc., và coi lợi ích dân tộc là cao nhất và thiêng liêng nhất” 2.
Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (tháng 7-2003) tiếp tục khẳng định: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của Tổ quốc”3. Đại hội XI của Đảng (năm 2011) khẳng định mục tiêu của đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ mới là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” và “vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”4. Văn kiện Đại hội XII đã đề cập rõ hơn và ở mức cao nhất về mục tiêu đối ngoại, đó là “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”5. Như vậy, lợi ích quốc gia luôn đóng vai trò trọng tâm trong việc xác định đường lối đối ngoại, hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay: Về mục tiêu của đối ngoại, Đại hội XII chỉ rõ “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”. Qua đó, Đảng ta khẳng định lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc là đồng nhất, lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam được xác 2 Hồng Hà: “Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của ta”, Tạp chí Cộng sản, tháng 12-1992, tr. 12 3 Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu học tập Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.
46 - 47 4 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 236 5 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 153 8 định trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi.
Đồng thời, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc phải là nguyên tắc tối cao của mọi hoạt động đối ngoại, mọi chính sách và hoạt động đối ngoại của Việt Nam phải phục vụ mục tiêu bảo đảm tối cao lợi ích quốc gia - dân tộc. Về phương châm chỉ đạo các hoạt động đối ngoại, Đại hội XII nêu rõ: “Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân”. Như vậy, Đảng ta đã khẳng định việc thực hiện các nhiệm vụ đối ngoại phải dựa trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, chỉ rõ tính chất hai mặt trong quan hệ với các đối tác, cũng như trong việc xử lý những vấn đề phát sinh để không bỏ lỡ cơ hội hợp tác, đồng thời cũng không được lơ là, mất cảnh giác. Về quan điểm chỉ đạo quá trình hội nhập quốc tế, Đại hội XII đã cụ thể hóa định hướng hội nhập quốc tế bằng những quan điểm chỉ đạo cụ thể, gồm: thứ nhất, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị; thứ hai, đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của đất nước; thứ ba, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế; thứ tư, hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi.
Về nguyên tắc tiến hành các hoạt động đối ngoại, mọi hoạt động đối ngoại phải bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc; đồng thời, phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, từ xác định quan điểm, lập trường của Đảng và Nhà nước đối với các vấn đề quốc tế, xây dựng và triển khai chính sách đối ngoại đến xử lý các vấn đề nảy sinh trong quan hệ với các đối tác. Một số vấn đề lý thuyết về vai trò của hoạt động đối ngoại đối với phát triển kinh tế xã hội. Hiện nay chưa có một lý thuyết nào định nghĩa rõ rệt và đầy đủ về vai trò của hoạt động đối ngoại đối với phát triển kinh tế xã hội. Để hiểu rõ vai trò của các hoạt động này đối với phát triển kinh tế xã hội chúng ta cần xem xét mối quan hệ giữa “ngoại giao và kinh tế”.
Ngoại giao và kinh tế có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau. Đối với nền ngoại giao các quốc gia, sức mạnh kinh tế vừa là cái đích phải đạt tới, vừa là phương tiện để họ thực hiện mục tiêu của mình. Và ngược lại, bất kỳ quan hệ trên lĩnh vực nào cũng cần nền tảng là quan hệ ngoại giao, một cách chính thực hoặc trên nguyên tắc nhất định. Sự tác động của yếu tố kinh tế xã hội đối với ngoại giao Trước hết, vai trò quyết định của kinh tế đối với ngoại giao thể hiện ở chỗ mục tiêu kinh tế của mỗi quốc gia là cơ sở quan trọng hàng đầu để mỗi Chính phủ, bộ, ngành chức năng của các nước đưa ra chiến lược, sách lược ngoại giao trong các mối quan hệ song phương và đa phương.
Vai trò quyết định của kinh tế đối với ngoại giao còn thể hiện ở chỗ, những thay đổi căn bản trong các mục tiêu kinh tế sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự điều chỉnh căn bản trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Khi các ưu tiên phát triển kinh tế thay đổi thì nhiều mối quan hệ chính trị - ngoại giao cũng được điều chỉnh theo; các yếu tố xã hội cũng sẽ tác động đến các chính sách ngoại giao trong phạm vi phong tục tập quán, đặc điểm dân tộc… Cuối cùng, kinh tế chính là tiền đề, là cơ sở vật chất bảo đảm cho mọi hoạt động đối ngoại, trước hết là ngoại giao. Như vậy, vai trò quyết định của kinh tế đối với ngoại giao được thể hiện rất đa dạng và phong phú. Sự tác động trở lại của ngoại giao đối với kinh tế Cần phải khẳng định rằng, không có hoạt động kinh tế đối ngoại nào mà không được thực hiện thông qua ngoại giao.
Nói cách khác, ngoại giao chính là nền tảng, là cơ sở để tiến hành hoạt động kinh tế đối ngoại của các quốc 10 gia. Ngoại giao có vai trò thúc đẩy, tác động và hỗ trợ cho cho các quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa các quốc gia với nhau và giữa các quốc gia trong các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực. Ngoại giao thiết lập các quan hệ, xây dựng các thiết chế pháp lý và tạo môi trường thuận lợi nhất để hoạt động kinh tế đối ngoại được triển khai tốt đẹp, nhằm phục vụ mục tiêu tối thượng là lợi ích quốc gia, dân tộc.