phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý truyền thông; Chƣơng 2. Thực trạng công tác tổ chức truyền thông về giáo dục vùng khó trên báo Giáo dục và Thời đại; Chƣơng 3. Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về giáo dục vùng khó trên báo Giáo dục và Thời đại.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý là một chức năng lao động - xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động.
Ngay từ khi con ngƣời bắt đầu hình thành nhóm, đã biết phối hợp các nỗ lực cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống. Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hôi, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp. đến một tập thể nhỏ nhƣ tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Ngƣời quản lý và đối tƣợng đƣợc quản lý.
Sự cần thiết của quản lý trong một tập thể lao động đƣợc K.Marx viết: "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng [34, 26]. Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, các nhà kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nƣớc. các nhà điều khiển học thiên về quan điểm hệ thống.
Cho nên khi đƣa các định nghĩa về quản lý, các tác giả thƣờng gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình, trong đó, quản lý văn hóa, quản lý thông tin – truyền thông, quản lý giáo dục - đào tạo là một số lĩnh vực nổi bật trong những năm gần đây. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm quản lý còn gắn liền với khái niệm tổ chức. “Tổ chức” là một khái niệm có nhiều định nghĩa, ở đây, xin sử dụng khái niệm tổ chức “như một nhóm cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, mỗi con người riêng lẻ không thể nào đạt đến” [11]. Hoạt động quản lý, theo định nghĩa của tác giả Đặng Quốc Bảo [5], là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (hay người quản lý), đến khách thể quản lý (hay người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Những tác động có định hƣớng, có chủ đích này có khả năng ảnh hƣởng đến khách thể quản lý, khiến họ thay đổi và thúc đẩy tổ chức vận hành và đạt mục đích. Quan điểm xuất phát, có tính chất tiền đề trong bất kỳ tổ chức nào, trong đó có tổ chức giáo dục là: sự thành công của tổ chức phụ thuộc trực tiếp và việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, dựa trên lý thuyết/ khoa học về hành vi. Cho nên các nhà quản lý ngày càng thấy rõ rằng thách thức đối với năng lực quản lý của mình chính là việc xây dựng và duy trì có hiệu quả tổ các tổ chức của con ngƣời. Paul Hersey và Ken Blanc Hard đã đƣa ra bốn cấp độ thay đổi trong con ngƣời: 1/ Những thay đổi về tri thức; 2/ Những thay đổi về thái độ; 3/ Những thay đổi về hành vi; 4/ Những thay đổi về sự vận hành nhóm hay tổ chức [34].
Chính vì vậy, ngƣời ta còn có định nghĩa khác về quản lý theo tiếp cận hành vi: “Quản lý là quá trình làm việc cùng nhau và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác nhau để hoàn thành mục đích của tổ chức” [28]. Quản lý trƣớc hết là tác động và bằng/ nhờ nguồn lực con ngƣời (và cùng các nguồn lực khác nhƣ vật lực, tài lực) để thực hiện các nhiệm vụ chung của tổ chức. Ngoài ra, còn có thể định nghĩa hoạt động quản lý một cách rõ hơn, đó là: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động (chức năng): kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra; hoặc tham khảo các định nghĩa của Nguyễn Ngọc Quang [37], Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt [32]. Từ các cách định nghĩa trên ta thấy: Quản lý dù nhìn ở góc độ nào thì nó cũng là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.
Quá trình tác động này được vận hành trong một môi trường xác định. Cấu trúc hệ thống quản lý đƣợc thể hiện ở sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Cấu trúc hệ thống quản lý MÔI TRƢỜNG QUẢN LÝ Công cụ Chủ thể QL Đối tƣợng QL Mục tiêu QL Phƣơng pháp Quản lý thông qua quy trình kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Nhƣ vậy, khái niệm quản lý thƣờng đƣợc hiểu nhƣ sau: Quản lý là sự tác động có ý thức thông qua kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Trong các công trình nghiên cứu về quản lý, ngƣời ta phân biệt quản lý và lãnh đạo.
Lãnh đạo đƣợc hiểu rộng hơn, bao quát hơn quản lý. Nhƣng phải 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống nhất một điều là một nhà quản lý giỏi cũng đồng nghĩa là nhà lãnh đạo tốt. Các chức năng cơ bản của quản lý Một dạng hoạt động quản lý đặc biệt mà thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định gọi là chức năng quản lý. Có nhiều cách phân chia các chức năng quản lý, ở nƣớc ta, trong quy trình quản lý, ngƣời ta thƣờng sử dụng các bƣớc: lập kế hoạch (planning), tổ chức (organizing), chỉ đạo – lãnh đạo (leading), kiểm tra (controling).
Lập kế hoạch: là bƣớc quan trọng cơ bản nhất trong số các bƣớc, nhằm xác định khối lƣợng công việc, định ra mục đích, lựa chọn mục tiêu, khái quát các công việc phải làm đặt ra những quy định, xây dựng biện pháp, chọn cách thực tế để tổ chức đạt đến mục tiêu đã chọn. Nói cách khác lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề, những ý tƣởng của chủ thể quản lý để đạt đƣợc mục đích và đi đến mục tiêu. Tổ chức: là bƣớc xây dựng những quy chế đặt ra mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức, giữa các bộ phận với bộ phận trong tổ chức. Khi ngƣời quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tƣởng đó thành hiện thực, chính vì thế, ngƣời quản lý cần có bƣớc xác định có tính định tính và định lƣợng chức năng nhiệm vụ giữa các thành viên, giữa các bộ phận để thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến các khâu, các mắt xích trong tổ chức và đối tƣợng quản lý để đạt hiệu quả cao nhất.
Dựa trên khả năng sở trƣờng, sở đoản, trình độ năng lực của từng cá nhân, thông qua tuyển chọn, ngƣời quản lý cần sắp xếp nhân sự để phù hợp yêu cầu công việc. Ngƣời quản lý cũng cần thời gian đánh giá khách 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan để có kế hoạch bồi dƣỡng, đào tạo, điều chỉnh con ngƣời, sao cho công việc vẫn tiến hành thƣờng xuyên, liên tục, và đạt hiệu quả cao hơn so với thời gian trƣớc đó. Thành quả của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực sử dụng nguồn nhân lực của ngƣời quản lý. Lãnh đạo, chỉ đạo: là công việc thƣờng xuyên của ngƣời quản lý.
Sau khi kế hoạch đã đƣợc lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã tuyển dụng thì ngƣời quản lý cần tiếp tục dẫn dắt tổ chức. Ngƣời quản lý phải đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong tầm quan sát và xử lý, ứng xử kịp thời đảm bảo cho nhân viên cấp dƣới luôn luôn phát huy tính tự giác và tính kỷ luật. Nói một cách khái quát nhất đây là quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã định. Kiểm tra đánh giá: là nhiệm vụ quan trọng của ngƣời quản lý, thông qua đó, một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết.
Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tƣơng ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ nhƣ sau: Ngƣời quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động. Ngƣời quản lý đối chiếu, đo lƣờng kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra. Ngƣời quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch.
Ngƣời quản lý hiệu chỉnh, sửa lại những chuẩn mực nếu cần. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong công tác lãnh đạo, quản lý và chỉ huy, Bác Hồ đã từng nói: "Không có kiểm tra đánh giá coi nhƣ không có lãnh đạo" [22]. Qua đó đủ thấy vai trò kiểm tra đánh giá, rút ra bài học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể quản lý là việc làm không thể thiếu của chủ thể quản lý. Thông tin: Trƣớc kia, khi khoa học quản lý còn ở giai đoạn manh nha, ngƣời ta không đánh giá cao vai trò của thông tin.