MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Trong thời gian qua, lĩnh vực dịch vụ viễn thông của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật với tốc độ tăng trưởng vượt trội so với các ngành dịch vụ khác. Ngành Viễn thông của Việt Nam chỉ thật sự bắt đầu bước vào cạnh tranh từ năm 2003 sau khi một số nhà khai thác mới được cấp phép cung cấp dịch vụ. Do có sự cạnh tranh cao giữa các nhà cung cấp viễn thông mà thị trường và khách hàng đã có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ viễn thông.
Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh ở cả hai loại được đánh giá là khá quyết liệt. Đối với thị trường viễn thông, các cuộc đua về giá cước, cạnh tranh trong các sản phẩm dịch vụ gia tăng của các nhà mạng lớn đang diễn ra ngày càng gay gắt giữa các nhà cung cấp trong nước và với các nhà cung cấp nước ngoài. Sự cạnh tranh quyết liệt của các nhà cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực viễn thông đã nảy sinh các van dé và xu hướng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực này, đặc biệt là theo lộ trình cam kết Việt Nam gia nhập WTO, lĩnh vực viễn thông được mở cửa hội nhập từ cuối năm 2009. Đây là một cơ hội cho lĩnh vực viễn thông Việt Nam đạt được tầm cao mới, nhưng cũng là thách thức và tạo ra các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh đối với các nhà cung cấp dịch (DV) trong nước và với thị trường viễn thông nói chung.
Trong tương lai gần, mức độ cạnh tranh trên thị trường viễn thông của Việt Nam được dự báo còn khốc liệt hơn khi thị trường đã bước vào giai đoạn bão hòa và trên thị trường xuất hiện thêm nhiều nhà cung cấp dịch vụ mới theo lộ trình cam kết gia nhập WTO. Đây là cơ hội cho thị trường viễn thông trong nước, đặc biệt là mang lại nhiều lợi ích cho người dân cũng như nâng cao cơ sở hạ tầng về viễn thông của Việt Nam. Bên cạnh đó, việc hội nhập quốc tế cũng tạo ra khá nhiều thách thức về cạnh tranh hoạt động cũng như 2 việc tăng thị phần người sử dụng và nâng cao chất lượng phục vụ dịch vụ viễn thông. Muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khai thác lĩnh vực viễn thông phải có khả năng nhận biết và phát huy tốt nhất năng lực của bản thân, cũng như tận dụng được các cơ hội bên ngoài.
Vì vậy, việc nắm rõ khả năng hoạt động cũng như việc làm thé nào dé có thể nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu. Ở Việt Nam hiện nay, bài toán nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đang là một trong những vấn đề được ưu tiên hàng đầu không chỉ có các nhà đầu tư, những nhà lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm mà còn cả các cơ quan ban ngành của Chính phủ. Chính vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “M6t số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cé phan Viễn thông FPT”. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cô phần Viễn thông FPT những năm gan đây và phương hướng phát triển trong tương lai của công ty đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty.
Đề thực hiện mục tiêu này, nhiệm vụ của luận văn là: - Hệ thống hóa lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - Phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính của công ty và phát hiện những mặt tồn tại cần khắc phục. - Đề xuất một số biện pháp nhăm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty trong thời gian tới. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cô phần Viễn thông FPT. - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cô phần Viễn thông FPT từ năm 2010 — 2014.
Phương pháp nghiên cứu Đề hoàn thiện luận văn tôi đã sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp thu thập va tông hợp tài liệu: Là phương pháp thu thập và xử lý thông tin có sẵn trong tài liệu, sau đó tổng hợp lại theo từng đối tượng. - Phương pháp thực tế quan sát: Là phương pháp dựa vào quan sát cách làm thực tế của DN dé đưa ra đánh giá. - Phương pháp phân tích đánh giá: Là phương pháp dựa vào các dữ liệu, thông tin thu thập được từ đó áp dụng các phương pháp phân tích, đánh giá và đưa ra nhận xét. - Phương pháp điều tra phỏng vấn: Là phương pháp đưa ra những câu hỏi đối với những người có liên quan tới đối tượng nghiên cứu.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận văn đã hệ thống hóa được kiến thức cơ bản về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp nói chung.
Trên cơ sở lý luận khoa học, luận văn đã đi sâu phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Viễn thông FPT, và đưa ra các giải pháp có tính khả thi đáp ứng được yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. TONG QUAN VE HIỆU QUÁ HOAT ĐỘNG SAN XUẤT KINH DOANH CUA MOT DOANH NGHIEP 1. Khái niệm, bản chat và vai trò của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Quan điểm của nhà kinh tế học người Anh — Adam Smith thì hiệu qua là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế doanh thu tiêu thụ hàng hóa, ở đây hiệu quả đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh vì cho rằng doanh thu có thé tăng do chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất có kết quả, có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan niệm này cũng có hiệu quả. - Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả với tăng thêm của chỉ phí. - Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra dé đạt được chi phí đó. - Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hop dùng dé lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong thực tiễn của con người ở mọi lĩnh vực và mọi thời điểm.
Bất kỳ một quyết định nào cũng cần được một phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép là giải pháp thực hiện có cân nhắc tính toán chính xác phù hợp với sự tất yêu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thé. Từ quan điểm khác nhau như trên của các nhà kinh tế, ta có khái niệm chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh như sau: - Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo càng trở lên quan trọng của tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Bản chất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Thực chat khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khang định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp — mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Tuy nhiên, dé hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phan. va cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản pham,.
như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp. Trong khi đó, khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) dé đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chỉ phí đều có thể được xác định bằng đơn vi hiện vật và đơn vi giá tri. Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật dé xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường còn việc sử dụng đơn vi giá tri luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường - tiền tệ.
Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói 6 chung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ dé nhận biết “kha năng” tiễn tới mục tiêu cần đạt là kết quả.