CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Hiện nay trên thực tế có rất nhiều định nghĩa về doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều có nội hàm và tính phù hợp đối với từng ngành nghề kinh doanh.
Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thuế. Theo Luật Doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Xét theo quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa bán sản phẩm vơi giá thành của sản phẩm ấy. Xét theo quan điểm phát triển thì “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được” [3].
Xét theo quan điểm hệ thống: doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự. 6 Dù xem xét doanh nghiệp dưới góc độ nào, giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất. Nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau: Yếu tố tài chính: tạo ra các nguồn lực biểu hiện bằng tiền để giúp cho doanh nghiệp đủ nguồn lực thực để hoạt động theo mô hình, theo mục tiêu, theo nhiệm vụ mà doanh nghiệp đã đăng ký.
Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hoá nhằm thực hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính. Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin. Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại – mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra. Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được.
Tóm lại: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, có đủ nguồn lực và các phương tiện để huy động về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động có tổ chức có hướng đích từ việc xây dựng doanh nghiệp, tổ chức sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hoá lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động SXKD luôn gắn liền với xã hội loài người, mỗi doanh nghiệp (DN) cần phải nắm bắt được nhu cầu cũng như thị hiếu của thị trường để nhằm đưa ra những chiến lược đúng đắn đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra. Hoạt động kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường. Hoạt động kinh doanh có các đặc điểm sau: - Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp - Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định cho công việc kinh doanh, là cơ sở đánh giá tiềm lực của DN.
Không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh. Chủ thể kinh doanh sử dụng vốn để mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động… - Kinh doanh cần phải hướng tới thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh và với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho doanh nghiệp duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mình ngày càng phát triển. - Mục đích chủ yếu và bao trùm của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động SXKD luôn gắn liền với xã hội loài người, mỗi doanh nghiệp (DN) cần phải nắm bắt được nhu cầu cũng như thị hiếu của thị trường để nhằm đưa ra những chiến lược đúng đắn đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra. Có nhiều cách hiểu khác nhau về hiệu quả kinh doanh.
Một số quan điểm cho rằng hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa đầu vào và đầu ra, giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được. Do vậy, 8 thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm chi phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là việc tối đa hoá kết quả hoặc tối thiểu hoá chi phí dựa trên các nguồn lực sẵn có. Ta có thể mô tả hiệu quả bằng công thức sau: KQ HQ (1.1) CP Trong đó: - HQ: Hiệu quả; - KQ: Kết quả đạt được; - CP: Hao phí các nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đạt được. Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất [1, tr.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất. Hiệu quả kinh doanh còn thể hiện sự vận dụng khéo léo của các nhà quản trị doanh nghiệp, giữa lý luận và thực tế nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận. Vậy hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất [12, tr. Hiệu quả hoạt động SXKD của các doanh nghiệp nước ta hiện nay được đánh giá trên một số phương diện chính như sau: a) Hiệu quả xã hội, kinh tế, kinh tế - xã hội và kinh doanh - Hiệu quả xã hội: là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định [5].
Các mục tiêu xã hội như giải quyết việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi xã hội, mức sống và đời sống văn hóa, tinh thần của người lao động, đảm bảo và nâng cao sức khỏe, cải thiện điều kiện làm việc, đảm 9 bảo vệ sinh môi trường. - Hiệu quả kinh tế: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó [5]. Các mục tiêu kinh tế thường là tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập quốc dân. - Hiệu quả kinh tế - xã hội: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định [5].
Các mục tiêu kinh tế xã hội như tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân bình quân, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi xã hội - đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động. - Hiệu quả kinh doanh: phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định [5]. b) Hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh - Hiệu quả đầu tư: phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đầu tư đã xác định [5]. Hiệu quả đầu tư gắn liền với hoạt động đầu tư cụ thể.
- Hiệu quả kinh doanh: phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh đã xác định [5]. Hiệu quả kinh doanh gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. c) Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh từng lĩnh vực - Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: phản ánh trình độ lợi dụng mọi nguồn lực để đạt được mục tiêu của toàn doanh nghiệp hoặc từng bộ phận của nó [5]. Do tính chất phản ánh trình độ lợi dụng mọi nguồn lực nên hiệu quả kinh doanh tổng hợp đánh giá khái quát và cho phép kết luận tính hiệu quả của toàn doanh nghiệp trong một thời kỳ xác định.
- Hiệu quả ở từng lĩnh vực: đánh giá trình độ lợi dụng một nguồn lực cụ thể ( lao động, vốn cố định, vốn lưu động.) theo mục tiêu đã xác định [5]. Hiệu quả kinh doanh ở từng lĩnh vực không đại diện cho tính hiệu quả 10 của doanh nghiệp, chỉ phản ánh hiệu quả của một nguồn lực cá biệt cụ thể. d) Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn - hiệu quả kinh doanh dài hạn - Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn: là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng, quý. - Hiệu quả kinh doanh dài hạn: là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian dài, gắn với các chiến lược, các kế hoạch dài hạn [5].