CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN ĐỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng [23], [26], [27] 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế.
Vì vậy tín dụng được rất nhiều nhà kinh tế học đề cập đến và đã có nhiều khái niệm về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo khái niệm cơ bản sau: “ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận” Theo khái niệm trên có thể hiểu tín dụng bao gồm hai yếu tố căn bản: Thứ nhất, người sở hữu một số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho người khác sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Thứ hai, người sử dụng cam kết sẽ hoàn trả lại số tiền hoặc hàng hóa đó cho người sở hữu với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và phần chênh lệch lớn hơn đó gọi là lợi tức hay tiền lãi. Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên nó vẫn giữ nguyên được những bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng.
Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là NHTM và một bên là các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức tín dụng và các NHTM khác. Như đã phân tích tín dụng là quan hệ vay mượn gồm cả cho vay và đi vay. Tuy nhiên nói đến tín dụng ngân hàng (hoặc các trung gian khác) thì chỉ bao hàm ý nghĩa là ngân hàng cho vay (tức là không nghiên cứu tới phần huy 4 động vốn tại các ngân hàng thương mại). Và trong khuôn khổ có hạn của luận văn này em xin được phân tích tín dụng ngân hàng với ý nghĩa như vậy.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế trong một thời hạn nhất định với một khoản chỉ phí nhất định. Như vậy, quan hệ tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng. - Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn. - Sự chuyển nhượng, này có kèm theo chi phí.
Theo Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 ghi “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy có thể hiểu rằng, tín dụng bao gồm 4 hình thưc chính là: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá và cho thuê tài chính. Cụ thể từng hình thức tín dụng này sẽ được nêu trong phần phân loại tín dụng ngân hàng. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng Theo phân tích các khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng ở trên có thể thấy một số đặc trưng của tín dụng ngân hàng như sau: - Sự chuyển nhượng vốn từ ngân hàng sang khách hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
- Thời gian chuyển nhượng vốn là có hạn và được xác định rõ khi cho vay. Ngân hàng xác định thời hạn cho vay chủ yếu dựa vào chu kỳ luân chuyển vốn của khách hàng. - Tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng có một nguyên tắc là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng.
Đối với các ngân hàng, nguyên tắc này càng quan trọng vì ngân hàng về bản chất là một doanh nghiệp kinh doanh vốn. Phân loại tín dụng ngân hàng [26] Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau: 1. Phân loại theo thời hạn tín dụng Theo tiêu thức này tín dụng được phân thành 3 loại sau: a) Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và được cấp cho các hoạt động bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp và phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của các cá nhân.
b) Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng và chủ yếu cấp cho các hoạt động mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. c) Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, được cấp cho xây dựng cơ bản, đâu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. Với hoạt động cho vay, thời hạn cho được quy định trong Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là “khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong họp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng”. Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Cách phân loại này còn được gọi là phân loại theo mức độ bảo đảm tiền vay hay cụ thể hơn là phân loại theo tài sản bảo đảm.
Tài sản bảo đảm là tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch. Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn nợ thứ nhất từ quá trình 6 hoạt động, sản xuất kinh doanh không hoàn trả hay không hoàn trả. Theo cách phân loại này tín dụng được chia thành 2 loại: a) Tín dụng có tài sản bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố các tài sản bảo đảm của chính khách hàng hoặc của người thứ ba sẵn sàng dùng tài sản của mình cam kết bảo đảm cho khoản tín dụng của khách hàng. b) Tín dụng không có tài sản bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp của người vay hoặc của người thứ ba.
Việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Phân loại theo nghiêp vụ tín dụng (hình thức cấp tín dụng) Theo cách phân loại này tín dụng bao gồm hình thức là: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cụ thể: a) Cho vay: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay là nghiệp vụ cơ bản và truyền thống của tín dụng.
Hoạt động cho vay tại nhiều ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng và mang lại lợi nhuận khá cao cho các NHTM. b) Chiết khấu Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Theo quy định trong Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013, các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá được chiết khấu bao gồm: Hối phiếu đòi rợ, hối phiếu nhận nợ, séc và các loại công cụ chuyển nhượng khác được chiết khấu theo quy định của pháp luật. Trên thực tế hiện nay các ngân hàng thường nhận chiết khấu hai loại chứng từ cơ bản: thương phiếu và chứng 7 từ có giá khác như trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu Kho bạc Nhà nước, sổ tiết kiệm.
c) Cho thuê tài chính Cho thuê tài chính của ngân hàng còn được gọi là cho thuê tài sản là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác (gọi là tài sản cho thuê) trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa Bên cho thuê là các ngân hàng và Bên thuê là khách hàng của ngân hàng. Bên cho thuê tức Ngân hàng cam kết các tài sản theo yêu cầu của khách hàng và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê. Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, Bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận.
d) Bao thanh toán Bao thanh toán là hình thức tín dụng khá mới và không phổ biến tại các NHTM Việt Nam. Ngày 19/02/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có văn bản số 991/NHNN-TTGSNH hướng dẫn các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động bao thanh toán quy định tại Quy chế hoạt động bao thanh toán ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ- NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc NHNN. Theo đó hoạt động bao thanh toán được quy định như sau: Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.