CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về nhân lực và nhân lực trong doanh nghiệp: 1. Nhân lực: Nhân lực là toàn bộ khả năng thể lực và trí lực của người tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. [2,tr5] Nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hoặc một xã hội.
Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp các cá nhân cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội. Từ định nghĩa chung này có thể xem xét thuật ngữ nhân lực dưới một số khía cạnh. [16] Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động.
[16] Nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nhân lực trong doanh nghiệp Do có thể tồn tại, cạnh tranh và phát triển được ở hiện tại và trong tương lai “Nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực”. [3] 6 Trong cuốn sách Quản lý và phát triển NNL xã hội được xuất bản năm 2006 cho rằng “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. [4] Từ các phân tích trên, có thể thấy NL được xem xét và đánh giá theo số lượng, chất lượng và cơ cấu: Về số lượng: Thể hiện quy mô NL và tốc độ tăng trưởng nhân lực.
Về chất lượng nhân lực, thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ, chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của người lao động. Việc nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho nhân lực phải không ngừng “phát triển toàn diện về mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội”.[4] Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa nội dung các quan niệm trên đây, chúng tôi cho rằng: Nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng những người lao động đáp ứng nhu cầu nhất định về loại hình lao động tương ứng của mỗi doanh nghiệp, tổ chức trên thị trường. [4] Nhân lực trong doanh nghiệp là tất cả mọi cá nhân tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Nó bao gồm các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nhân lực được coi là một nguồn vốn, một nguồn tài nguyên quý báu của doanh nghiệp. Do vậy nếu doanh nghiệp biết cách sử dụng và khai thác hợp lý thì đó là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp. Khái niệm về chất lượng nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực 1. Chất lượng nhân lực Theo PGS.TS Mai Quốc Chánh thì: “Chất lượng nhân lực được xem xét qua các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất” [2].
Như vậy, việc đánh giá CLNL được tác giả xem xét trên nhiều góc độ, nhiều cách tiếp cận khác nhau chứ không coi đó là các tiêu 7 chí cần thiết và bắt buộc phải có. Do đó, nhận thấy CLNL là một khái niệm bao hàm rất rộng, là một trong các yếu tố đánh giá nhân lực, chi tiết CLNL thể hiện qua các mặt sau: 1. Là trạng thái sức khỏe của con người đủ đáp ứng yêu cầu công việc nhất định nào đó. Mỗi doanh nghiệp, tổ chức nhất định với tính chất đặc thù nghề nghiệp khác nhau, nhưng sẽ có yêu cầu giống nhau về đội ngũ nhân lực của mình.
Chất lượng NL được cấu thành bởi năng lực tinh thần và năng lực thể chất, tức là nói đến sức mạnh và tính hiệu quả của những khả năng đó, trong đó thể chất chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức khỏe cơ bắp trong công việc; thể lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực; bởi nếu không chịu được sức ép của công việc cũng như không thể tìm tòi, sáng tạo ra những nghiên cứu, phát minh mới. Thể lực của NNL được hình thành, duy trì và phát triển bởi chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, thể lực của NNL phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, phân phối thu nhập cũng như chính sách xã hội của mỗi quốc gia.
Có sức khỏe tốt không thôi là chưa đủ. Một sức khỏe cường tráng phải bao hàm trong đó một trí lực cao, đủ rộng, đa năng để có thể thích ứng với đòi hỏi của thị trường. NL là đội ngũ những người lao động có trình độ học vấn nhằm tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn trong sản xuất kinh doanh; sáng tạo ra những sản phẩm mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp đó nói riêng và nền kinh tế - xã hội nói chung. Với doanh nghiệp điều đó càng trở thành đòi hỏi khách quan, thậm chí thành yếu tố có tính quyết định - tiền đề tiếp thu, sáng tạo, triển khai, ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất kinh doanh.Tâm lực Còn gọi là phẩm chất tâm lý – xã hội, chính là tác phong, tinh thần – ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp ( khẩn trương, đúng giờ,…), có ý thức tự giác cao, có sự say mê, đam mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc, có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với sự thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý.
Trình độ chuyên môn Là những kiến thức chuyên môn thể hiện sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn, chuyên ngành nào đó trước khi làm việc. Đó cũng là trình độ được đào tạo ở các trường chính quy, cơ sở dạy nghề. [19] Qua các yếu tố đánh giá CLNL, ta có sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố trên như sau: Thể lực Trí lực Tâm lực Trình độ chuyên môn 1. Nâng cao chất lượng nhân lực Nâng cao chất lượng NL chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của NL lên đến một trình độ nhất định để tạo lên một sản phẩm, áp dụng công nghệ - kỹ thuật tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo chất lượng.
Do đó, CLNL chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển KTXH. Thông qua CLNL thể hiện rõ trình độ phát triển KTXH của một quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội.[21] Nâng cao CLNL là tạo ra một tiềm năng của con người thông qua, đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần. Qua đó, khai thác tối đa tiềm năng của NL trong các hoạt động lao động thông qua việc tạo điều kiện về môi trường làm việc (phương tiện lao 9 động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý,…) môi trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của người lao động, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ được giao. Việc quản lý và sử dụng đúng nhân lực sau khi đã được đào tạo phù hợp với năng lực của mỗi cá nhân phục vụ cho các công việc cụ thể là nhân tố quyết định đến thành công của doanh nghiệp.[21] Từ những luận điểm trên có thể hiểu rằng “Nâng cao CLNL trong doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của con người lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực, tâm lực và trình độ chuyên môn so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp”.
Các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp 1. Tiêu chí đánh giá năng lực của người lao động 1. Trạng thái sức khỏe Đối với tiêu chí sức khỏe, thường khảo nghiệm thực tế như cân đo, thực hiện các kiểm tra về sức khỏe,… từ đó đánh giá dựa trên những tiêu chuẩn nhất định. Thông tư số 13/2007/TT – BYT, Bộ y tế hướng dẫn khám sức khỏe khi làm hồ sơ dự tuyển, khám sức khỏe khi tuyển dụng, khám sức khỏe định kỳ và khám sức khỏe theo yêu cầu đối với các đối tượng là cơ sở người sử dụng lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề… với nội dung khám được quy định như sau: Khám thể lực (chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, mạch, huyết áp); Khám lâm sàng (nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa, mắt, tai-mũi-họng, răng- hàm-mặt, da liễu); Khám cận lâm sàng (xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, chẩn đoán hình ảnh).
[14] Theo đó, căn cứ vào các chỉ tiêu trên để phân loại sức khỏe thành 5 loại theo Quyết định số 1613/BYT-QĐ ban hành ngày 15/8/1997 của Bộ y tế về tiêu chuẩn sức khỏe – phân loại để khám tuyển, khám định kỳ cho người lao động: Loại I: Rất khỏe; Loại II: Khỏe; Loại III: Trung Bình; Loại IV: Yếu; Loại V: Rất yếu. [20] 10 Sức khỏe là yếu tố quan trọng không thể thiếu khi đánh giá CLNL bởi không có sức khỏe con người sẽ không thể lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Khi người lao động có sức khỏe tốt mới có thể hưng phấn làm việc và cống hiến cho xã hội, mới có khả năng tập trung trí tuệ khi làm việc, có lý tưởng, niềm tin và ý chí để hoàn thành tốt công việc được giao.