CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN VÀ MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN 1. Lý luận cơ bản về dịch vụ vận tải biển 1. Các khái niệm Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao sở hữu nào cả [7, tr. Vận tải biển là một ngành công nghiệp dịch vụ đáp ứng nhu cầu vận tải của xã hội thông qua việc cung cấp dịch vụ vận chuyển từ cảng này đến cảng khác trong không gian theo thời gian để nhận tiền công vận chuyển [10, tr.
Dịch vụ vận tải biển là hoạt động dịch vụ đặc thù mà trong đó người vận tải biển thực hiện yêu cầu của khách hàng theo sự thỏa thuận để vận chuyển hàng hóa và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác nhằm thu lợi nhuận kinh tế[10, tr. Đặc điểm của dịch vụ vận tải biển. Dịch vụ vận tải biển là một ngành kinh doanh khá đặc thù, bên cạnh những điểm chung giống các ngành sản xuất, kinh doanh khác, dịch vụ vận tải còn có những đặc điểm riêng biệt sau: - Dịch vụ vận tải biển thực hiện việc dịch chuyển các đối tượng của vận tải trong không gian từ cảng này tới cảng khách thông qua môi trường biển. - Dịch vụ vận tải biển có thể phục vụ chuyên chở các loại hàng trong buôn bán quốc tế, thích hợp với cự ly dài, khối lượng vận chuyển lớn.
- Dịch vụ vận tải biển thường gặp nhiều rủi ro, nguy hiểm và ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên, yếu tố thời tiết. - Dịch vụ vận tải biển không phù hợp với việc chuyên chở những hàng hóa đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh. - Sản xuất trong dịch vụ vận tải biển không tạo ra sản phẩm mới và chỉ tạo ra một loại sản phẩm đặc biệt ( sản phẩm dịch vụ vận tải ). - Sản xuất trong dịch vụ vận tải biển không làm thay đổi kích thước và tính chất lý hóa của nó.
5 - Sản phẩm dịch vụ vận tải biển không có hình dạng, kích thước cụ thể, không tồn tại ngoài quá trình sản xuất nó ra. Sản phẩm dịch vụ vận tải biển không có khoảng cách về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng, nó được cung cấp và tiêu dùng cùng một lúc, khi sản xuất kết thúc thì dịch vụ vận tải biển cũng được tiêu dùng ngay. Vai trò của dịch vụ vận tải biển Dịch vụ vận tải biển là một trong những ngành công nghiệp có tầm toàn cầu nhất, người ta coi dịch vụ vận tải biển như một bậc thang để phát triển kinh tế. Vai trò của dịch vụ vận tải biển thể hiện như sau: - Dịch vụ vận tải biển là yếu tố không thể tách rời thương mại quốc tế: Thương mại quốc tế và vận tải nói chung và vận tải biển nói riêng có mối quan hệ chắt chẽ với nhau.
Vận tải được phát triển trên cơ sở của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Vận tải phát triển góp phần làm giảm giá thành chuyên chở, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế, tự do hóa thương mại góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. - Dịch vụ vận tải biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển: Phần lớn khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa các quốc gia phụ thuộc vào mối quan hệ chính trị, tiềm năng kinh tế, vị trí địa lý và sự phát triển của lĩnh vực vận tải. Do tiến bộ của khoa học kỹ thuật và tăng năng suất lao động trong ngành vận tải mà giá cước trung bình trong vận tải quốc tế có xu hướng giảm.
Đối với vận tải đường biển có ưu điểm hơn là khối lượng vận chuyển lớn làm cho cước phí vận tải biển rẻ hơn do đó càng thúc đẩy sự lưu thông, buôn bán quốc tế. - Vận tải biển phát triển góp phần đa dạng hóa các mặt hàng trong buôn bán quốc tế. Trước đây vận tải đường biển chưa phát triển, công cụ vận tải thô sơ, sức chở nhỏ, trong khi chi phí vận tải cao đã làm hạn chế vệc mở rộng mua bán nhiều mặt hàng, đặc biệt là mặt hàng nguyên, nhiên liệu. Việc buôn bán giao dịch giữa các quốc gia thường là các thành phẩm.
Sự ra đời của công cụ vận chuyển, có trọng tải lớn đặc biệt là vận tải biển đã góp phần hạ giá thành cước vận tải góp phần mở rộng chủng loại các mặt hàng trong buôn bán quốc tế. - Tác động đến cán cân thanh toán quốc tê: Vận tải biển có tác dụng ảnh hưởng tích cực hoặc làm xấu đi cán cấn thanh toán, chức năng phục vụ thể hiện ở 6 chỗ vận tải quốc tế đảm bảo nhu cầu chuyên chở hàng hóa xuất, nhập khẩu của mỗi nước. Vận tải ảnh hưởng tích cực đến cán cân thanh toán quốc tế. Nếu vận tải đường biển của một nước không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở hàng hóa ngoại thương thì nước đó phải chi ra một lượng ngoại tệ nhất định để nhập khẩu dịch vụ vận tải.
Sự thiếu hụt trong cán cân xuất, nhập khẩu dịch vụ vận tải ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế. Những nhân tố tác động đến dịch vụ vận tải biển 1. Tuyến đường biển Tuyến đường biển là đoạn đường mà tàu đi được giữa hai cảng liền nhau trong hành trình đường biển [9, tr.6] Tuyến đường biển là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận tải biển. Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên ( trừ việc xây dựng các hải cảng, kênh đào quốc tế ) do đó không đòi hỏi phải đầu tư nhiều tiền vốn, nguyên vật liệc, sức lao động để xây dựng, bảo quản các tuyến đường.
Tuy nhiên các tuyến đường biển luôn bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên như mưa, gió, bão và các tai nạn bất thường trên biển xảy ra làm cho vận tải biển thường chậm và gặp nhiều rủi ro. Những tuyến đường vận tải biển thuận lợi, góp phần giảm thiểu thơi gian vận chuyển hàng hóa, độ an toàn của hàng hóa cao. Ngược lại những tuyến đường vận tải biển gặp nhiều khó khăn do yếu tố thời tiết, tuyến đường phức tạp sẽ làm tăng thời gian vận chuyển cùng đó là phát sinh tăng các chi phí như dầu máy, lương thuyền viên, bảo dưỡng, sửa chữa. Có thể nói, tuyến đường biển là nhân tố quyết định đến giá thành của dịch vụ vận tải và chất lượng của dịch vụ vận tải.
Cảng biển Cảng biển là đầu mối giao thông liên kết các loại phương thức vận tải khác nhau, như vận tải sông, vận tải biển, vận tải ô tô, vận tải sắt, vận tải đường ống, thậm chí cả vận tải hàng không [9, tr. Cảng biển còn là nơi ra vào, neo đậu của các loại tàu thuyền, là nơi phục vụ tàu và hàng hóa chuyên trở trên tàu, là đầu mối giao thông chuyên chở trong hệ thống vận tải. Ngày nay, cảng biển không chỉ là nơi bảo vệ an toàn cho tàu biển 7 trước các hiện tượng thiên nhiên bất lợi mà cảng biển là đầu mối giao thông, một mắt xích quan trọng trong quá trình vận tải biển. Cảng biển có hai chức năng: - Phục vụ tàu biển: Cảng là nơi ra vào, neo đậu của tàu, là nơi cung cấp các dịch vụ đưa đón tàu ra vào, lai dắt, cung ứng dầu mỡ, nước ngọt, sửa chữa tàu.
- Phục vụ hàng hóa: Cảng phải làm nhiệm vụ xếp dỡ, giao nhận, chuyển tải, bảo quản, lưu kho, tái chế, đóng gói, phân phối hàng hóa xuất, nhập khẩu, là nơi bắt đầu hoặc kết thúc của quá trình vận tải biển. Trang thiết bị của cảng Ranh giới của một cảng biển thường gồm hai phần đó là: Phần mặt nước và phần mặt liền. Trên mỗi phần diện tích của cảng có các công trình, vật kiến trúc, máy móc, trang thiết bị phục vụ cho cảng. Phần mặt nước của cảng bao gồm: Vũng tàu, luồng lạch, cầu tàu.
Phần đất liền bao gồm: Khu vực kho bãi, hệ thống đường giao thông, khu vực nhà xưởng, các máy móc, thiết bị phục vụ xếp, dỡ hàng hóa và khu làm việc của các cơ quan chức năng. Trong đó khu vực khai thác chính trong cảng biển đó là: - Khu vực cầu tàu: Đây là khu vực dành cho tàu neo đậu và làm hàng tại cảng. Với người quản lý, khai thác cảng, lý tưởng là cầu tàu luôn đủ chỗ cho tàu neo đậu mà không phải chờ để vào cầu. Tùy thuộc loại tàu, loại hàng mà khu cầu tầu được phân ra: Cầu tàu hành khách; Cầu tàu hàng khô, rời; Cầu tàu dầu…để bố trí thiết bị xếp dỡ cho phù hợp.
- Khu vực bãi cảng: Đây là khu vực dùng để chứa hàng lưu trên bãi trước khi giao hàng cho tàu đối với hàng xuất hoặc giao hàng cho chủ hàng đối với hàng nhập. Tùy thuộc vào tính chất chuyên dụng của cảng cũng như loại hàng ở cảng mà bố trí các khu bãi cảng cho phù hợp như: Khu bãi hàng lỏng, khu bãi hàng container, khu bãi hàng rời, khu bãi hàng bách hóa… 1. Phương tiện vận chuyển Phương tiện vận chuyển bằng đường biển là tàu biển. Tàu biển là phương tiện vận tải thủy được cơ giới hóa và hiện đại hóa, hoạt động trong một phạm vi xác định, nhằm phục vụ lợi ích và mục đích của con người về mặt kinh tế - kỹ thuật trên biển.
8 Tàu buôn là tàu biển được dùng vào mục đích kinh doanh trong hàng hải. Theo chức năng và công dụng của tàu người ta phân nó thành các dạng sau: Tàu hàng khô, tàu hàng lỏng, tàu chở khách, tàu phục vụ kỹ thuật, tàu lai dắt, tàu đánh cá…Ngày nay do quan hệ kinh tế được mở rộng cùng với việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đội tàu buôn trên thế giới tăng đáng kể về số lượng, chất lượng, trong tải các tàu nâng cao, chi phí về nguyên vật liệu giảm đáng kể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong hoạt động vận tải biển quốc tế. Sự ổn định về nguồn hàng trong các tuyến chuyên chở đã tạo điều kiện cho việc chuyên môn hóa các loại tàu buôn như: Tàu chuyên chở dầu, tàu container. Lý luận cơ bản về marketing trong doanh nghiệp vận tải biển 1.
Các khái niệm về marketing 1. Khái niệm marketing Theo quan điểm các nhà doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay thì: Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn của họ thông qua trao đổi về một loại sản phẩm – dịch vụ nào đó trên thị trường [8, tr.