Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Cùng với công tác dạy và học ở các cơ sở giáo dục là hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục. Mục đích chính của đánh giá CLGD là cải tiến chất lượng giáo dục, là công cụ giám sát quá trình dạy và học, từ đó đưa ra những quyết sách về quản lý, dự đoán các kết quả đào tạo để không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục có nhiều nội dung khác nhau, trong đó có đánh giá các yếu tố điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng sản phẩm giáo dục.
Hoạt động đánh giá của nhiều nước trên thế giới thường tập trung vào đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh và thường áp dụng cho các lớp ở cuối cấp học trong phạm vi cả nước theo các chuẩn mực quy định. Các hoạt động đánh giá này rất phổ biến ở Bắc Mỹ, châu Âu, Australia. Nhiều quốc gia còn tổ chức tiến hành đánh giá chất lượng học sinh ở các lớp giữa các cấp học để giám sát chất lượng dạy và học nhằm đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời, như ở Mỹ, Bang New South Wails…. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra chỉ ra các thành tố tạo nên CLGD là: - Ngữ cảnh(Context) - Đầu vào(Input) - Quy trình(Process) - Đầu ra(Outcome) Chất lượng sản phẩm giáo dục chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đặc biệt là các yếu tố như: Chất lượng hoạt động quản lý, hoạt động giáo dục, chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, kĩ thuật …Công tác đánh giá 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất lượng đội ngũ giáo viên cũng được các nước thực hiện; khác với công tác thanh tra có thể tiến hành đánh giá từng giáo viên thông qua năng lực giảng dạy của họ.
Công tác đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên nhằm tập trung mô tả thực trạng chung về số lượng, năng lực nghề nghiệp của toàn bộ đội ngũ giáo viên của nhà trường, của hệ thống; qua đó cung cấp các thông tin để cấp có thẩm quyền có thể đưa ra các biện pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, chất lượng nhà trường được nâng cao khi đội ngũ giáo viên của nhà trường có kỹ năng chuyên môn cao, được giảng dạy trong lĩnh vực mà họ được đào tạo, có kinh nghiệm, nhiệt tình và được nâng cao nghiệp vụ chuyên môn định kỳ. Chất lượng của các hoạt động giáo dục được thể hiện trong việc tổ chức quá trình dạy giáo dục, phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá, sự phát triển của người học, sự thoả mãn của cha mẹ và cộng đồng. Như vậy có thể khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục là: + Hoạt động tổ chức và quản lý nhà trường + Đội ngũ cán bộ, giáo viên + Cơ sở vật chất, trang thiết bị + Hoạt động giữa nhà trường với xã hội + Kết quả học tập và rèn luyện của học sinh Nhiều quốc gia trong quá trình đánh giá các nhà trường, họ thực hiện công tác KĐCLGD để xác nhận và công nhận chất lượng dạy và học của các nhà trường.
Tiêu biểu cho hình thức này là ở Hoa Kì, Canada, Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc…. Các Hiệp hội KĐCLGD ở các nước này đã xây dựng những bộ tiêu chuẩn, tiêu chí để công nhận mức độ đạt được của các cơ sở giáo dục so với các chuẩn quy định. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở nhiều nước trong khu vực gần đây đều nhấn mạnh đến lợi ích chăm sóc, giáo dục trẻ thơ toàn diện. Các nước rất quan tâm tới việc lựa chọn các tiêu chí và bộ công cụ đơn giản để can thiệp dựa vào gia đình và cộng đồng.
Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến kiểm định chất lượng giáo dục như Nguyễn Đức Chính với tác phẩm “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học” [16], Đặng Bá Lãm với “Kiểm tra và đánh giá trong dạy- học đại học” [8], Nguyễn Công Khanh với “Về tiêu chuẩn kiểm định khoá đào tạo giáo viên tiểu học” [15], Nguyễn Hữu Châu với “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục” [17].Tuy nhiên việc sử dụng và quản lý việc thực hiện bộ tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng giáo dục ở Trường Tiểu học còn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Các khái niệm công cụ 1. Quản lý Khi trình bày khái niệm quản lí, ngoài việc trích dẫn những tư tưỏng của các tác giả kinh điển của lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả thường dẫn ra quan điểm của một số tác giả nước ngoài như: Frederich Winslon Taylor (1855-1915); Henry Fayol (1841-1925); Mary Parkor Pollet (1868-1933); Harold Koontz… và một số tác giả Việt Nam như: Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân…[14] Các nghiên cứu về quản lí có thể được khái quát theo những khuynh hướng như sau: Thứ nhất, nghiên cứu quản lí theo quan điểm của điều khiển học và lí thuyết hệ thống. Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật v.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó.
Quản lý 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển. Thứ hai, nghiên cứu quản lí với tư cách là một hoạt động, một lao động tất yếu trong các tổ chức của con người. Thứ ba, nghiên cứu quản lí với tư cách là một quá trình trong đó các chức năng quản lí được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau. Theo hướng này, Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định.
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song có thể khái quát nội dung cơ bản của quản lí được đề cập đến trong các quan niệm trên là: 1/ Quản lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành phát triển; 2/ Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội; 3/ Quản lý là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức; 4/ Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người bị quản lý giữ vai trò trung tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý. Như vậy: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động [14]. Theo quan niệm trên quản lí nhấn mạnh đến những khía cạnh sau: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1/ Quản lí có hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản lí thực hiện.
Điều đó có nghĩa không có những hoạt động này, chưa có hoạt động quản lí trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lí đã xảy ra. Các hoạt động của chủ thể quản lí có hai nội dung chính. Thứ nhất, tác động đến đối tượng quản lí (con ngưòi và những đối tượng khác); Thứ hai, khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực. Nguồn lực cũng tồn tại như một trong những đối tượng quản lí nhưng không đồng nhất hoạt động tác động đến đối tượng quản lí với hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực.
Rất nhiều hoạt động tác động đến đối tượng quản lí cần đến điều kiện là nguồn lực. Khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực, trong những trường hợp cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tác động của chủ thể đến đối tượng quản lí được thực hiện có hiệu quả. 2/ Quản lí thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lí. Điều này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản lí thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lí xác định.
Tuy nhiên, những tác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức của chủ thể về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của mình và ý thức của chủ thể trong việc tuân thủ các qui luật khách quan đó. Mức độ thống nhất giữa những tác động hướng đích, có chủ định và hệ thống mục tiêu do chủ thể quản lí xác định với các qui luật khách quan khẳng định mức độ của tính khoa học, nghệ thuật của quản lí. 3/ Quản lí đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức trong và bằng những tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí cũng như trong việc khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực của tổ chức. 4/ Quản lí luôn tồn tại với tư cách là hệ thống.
Hệ thống quản lí được tạo bởi nhiều thành tố, nhưng các thành tố cơ bản thường được đề cập khi phân tích hệ thống quản lí là: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Chủ thể quản lí: là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lí. Chủ thể quản lí có thể là cá nhân hoặc tập thể. + Đối tượng quản lí: là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lí. Đối tượng quản lí là con người( những người) trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ chức (thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện).
Đối tượng quản lí bao giờ cũng tồn tại trong một khách thể quản lí xác định. Khách thể quản lí là cơ sở khách quan của đối tượng quản lí (cụ thể hơn là cơ sở khách quan làm nảy sinh đối tượng quản lí).